Từ trường trái đất đảo cực

Ảnh: blogspot.com.


Xem Thủy, Kim, Hỏa, Mộc hội tụ bằng mắt thường 

      Theo nguồn tin của thienvanvietnam.org, trong những ngày đầu tháng, vào khoảng từ 4h40 đến hơn 5h sáng khi nhìn về gần chân trời phía tây con người có thể thấy các hành tinh gồm sao Thủy, sao Kim, sao Hỏa và sao Mộc ở vị trí rất gần nhau trên bầu trời.

       Đặc biệt, vào ngày 11/5, hai hành tinh và Mộc và Kim sẽ nằm ở vị trí rất gần (gần như là dính chặt vào nhau) trên thiên cầu. Hiện tượng sao Kim và sao Mộc nằm sát nhau trên thiên cầu này khá hiếm gặp, đến tháng 8 năm 2014 mới có thể thấy lại hiện tượng này. 



 
Đây là một hiện tượng thiên nhiên kỳ thú hiếm gặp (Nguồn: Astronomy Magazine) 
      

      Vào ngày này, nếu thời tiết tương đối tốt, các bạn trẻ có thể dễ dàng nhận ra sự hội tụ của 4 hành tinh trên. Đặc biệt với sao Kim và sao Mộc là hai điểm sáng rất lớn. Hiện tượng thiên nhiên kỳ thú này hoàn toàn có thể quan sát bằng mắt thường. Vào thời điểm đó, sao Kim và sao Mộc di chuyển gần nhau, khá thấp ở phía đông và tỏa sáng. Sao Kim là ngôi sao sáng thứ hai, sau Mặt Trăng, sao Mộc nằm bên trái sao Kim.

      

Dịch học: Thiên Nhân chi tế

Dịch học: Thiên Nhân chi tế

Thiên Nhân chi tế


Tận cùng sự quan hệ Thiên Nhân

      Không đặt vấn đề về "Thiên Nhân chi tế", thì không phải là tìm hiểu về Huyền Đạo của Đông Phương học. Trong các phạm trù, thì Thiên là một phạm trù có ngoại diện cực kỳ rộng, với nội hàm phong phú, Thiên được giải thích khác nhau tùy theo từng học phái triết học, kể cả từng nhà triết học trong cùng một học phái.
      Tùy theo các nhà triết học của từng thời kỳ khác nhau, có sự giải thích khác nhau với nội hàm đa nguyên về phạm trù Thiên, thì đối với những người mới bắt đầu tìm hiểu về Huyền Đạo, thì phạm trù về Thiên giống như 'ma quái', khó lòng nắm bắt được, và thường nảy sinh ngộ nhận.

      Thiên là cái bản nguyên ở trên tự nhiên, chính là chỗ dựa cho trời đất vạn vật tồn tại. Thiên với tư cách là cái ở trên tự nhiên, với tính trừu tượng phổ biến của nó, với đặc tính vô hình vô tượng, và cả với tính dĩ nhiên đương nhiên như thế của nó. 
      Đặc trưng trọng yếu nhất của Thiên, đó chính là "vô vi"; Tự nhiên nhi nhiên của Thiên là chân tính vô vi của Thiên. Không làm gì cả lại là không cái gì không làm; như Thiên không làm việc bao che vạn vật, mà lại có thể bao che hết thảy vạn vật; Người không nuôi nấng ai, mà mọi người trong thiên hạ đều được nuôi nấng đầy đủ, đó là tự nhiên nhi nhiên.
      Cho nên nói, Thiên lấy "vô vi" làm Thể, lấy "vô vi" làm Dụng. Vô vi là tương đối với hữu vi mà nói, tự nhiên nhi nhiên là tương đối với phi tự nhiên nhi nhiên mà nói. Thiên là khoảng không tự nhiên vô cùng vô tận.
      Thiên với tư cách thực thể có thật, thì bản thân nó có quy tắc và trật tự biến hóa cố hữu, đó chính là lẽ "vĩnh hằng của Thiên" (Thiên thường), trong khoảng không tự nhiên này, vạn vật được sinh được dưỡng. Do tính chất và đặc điểm cơ bản của Thiên là "tự nhiên vô vi", cho nên Đạo của Thiên là lợi mà không hại, con người noi theo Thiên đạo mà bỏ cái thừa thêm cái không đủ, con người không thể đi ngược lại Thiên đạo bớt cái không đủ để cung phụng cho cái thừa.

Hợp số Thiên - Nhân, biến mà thông

       Thiên Nhân tương thắng tương dụng.

      "Lấy bề ngoài quan sát Thiên thì nói: Càn nên kiện, tự nhiên cao như thế. Lấy số mà quan sát Thiên thì nói: tác dụng của Thiên có 49, Thiên quả là hữu hình nhưng không thoát khỏi Số, làm ra hình tượng để làm cái vỏ, người xưa nói Thần tạo vật không phải là lời nói suông".
      [Dĩ mạo khuy Thiên giả viết: Càn nhiên kiện, đơn vu nhiên nhi cao. Dĩ số ngưỡng Thiên giả viết: kỳ dụng tứ thập hữu cửu. Thiên quả dĩ hữu hình nhi bất năng thoát hồ số, lập Tượng dĩ suy Giáp, ký thành nhi di chi, cổ sở vị thần giao tạo vật giả, phi không ngôn nhĩ.]
      Không phải chỉ quan sát hiện tượng bên ngoài của Thiên, mà tiến sâu đến khảo sát mối quan hệ giữa 'độ' và 'lượng' của Thiên, từ hình tượng của sự - vật, tiến sâu vào nội bộ của sự - vật, đó chính là 'thần giao tạo vật, phi không ngôn' (nói thần tạo ra Vật không phải là lời nói trống rỗng), không phải chỉ nói đại khái, khơi khơi bên ngoài, mà phải thâm nhập vào bản chất của cái tạo hóa, thậm chí phải nắm bắt được cái thần bí của nó vậy.
      Dùng cái vỏ Càn Khôn, Số của mười kỳ, tập trung chỗ thần diệu vận dụng đường hướng, trên cảm với mọi tầng lớp chồng chất. Xem tích tụ của huyền hoàng, không đầu mối mà có thường hằng, hiểu biết cặn kẽ, riêng dùng thần thể hội, Số bắt đầu từ hào dương thứ nhất quẻ Phục, âm sinh từ Cung của ống sáo, tích tụ ẩn tàng, nói về hóa hợp số của Thiên - Nhân, cùng cực thì bao hàm biến, biến thì thông tất cả, thần hầu quỷ đuổi không đủ sợ.
      [Dĩ Càn Khôn chi Giáp, đương thập kỳ chi số, ngưng thần vận chỉ, thượng cảm triền thứ. Thị huyền hoàng minh chỉ, vô nghê hữu thường, tuyệt cơ mẫn chi, độc dĩ thần hội, số khởi ư Phục chi Sơ cửu, âm sinh hồ hoàng chung chi cung, tích trưng tốt ẩn, ngôn dữ hóa hợp hồ Thiên Nhân chi số, cực nhi hàm biến, biến nhi mị bất thông, thần xu quỷ nhiếp, bất túc hãi dã.]

Giáp: có cuối ắt có đầu

        乾元用九,乃見 天 則, 天下治也 。

        Kiền nguyên dụng cửu, nãi kiến thiên-tắc, thiên-hạ trị dã.

      Trong Đạo Càn Khôn mà biết dùng hào dương, thì thấy được phép tắc của trời, thời bình trị được thiên hạ.

        Dịch viết: "Trời 1 đất 2, trời 3 đất 4, trời 5 đất 6, trời 7 đất 8, trời 9 đất 10"

        Tiêu Lâm trực nhật - Tiêu Diên Thọ nói: "Giáp 1 Ất 2, Giáp 3 Đinh 4, Giáp 5 Kỷ 6, Giáp 7 Tân 8, Giáp 9 Quý 10".

        Họ Tiêu lại nói: "Ất 1 Giáp 2, Ất 3 Bính 4, Ất 5 Mậu 6, Ất 7 Canh 8, Ất 9 Nhâm 10"

        Dịch - quẻ Lâm - Lời quẻ nói: "Chí vu bát nguyệt hữu hung".

        Ngài Tiêu Diên Thọ bảo rằng: từ cung Hợi - Tý - Sửu - Dần, quái Khôn đi ra mà làm chủ bên ngoài. Từ cung Tị - Ngọ - Mùi - Thân, thì quái Càn làm chủ bên ngoài. Cung Mão - Tuất hai quái Chấn - Cấn làm chủ bên ngoài. Cung Thìn - Dậu thì quái Đoài làm chủ cung Thìn ở bên ngoài - quái Tốn làm chủ cung Dậu ở bên ngoài.
        Cha thì làm chủ 4 cung bên ngoài, Mẹ cũng làm chủ 4 cung bên ngoài, con cả và con út, mỗi đứa đều được làm chủ một cung, vậy còn hai con Khảm Ly thì giao cho chúng làm chủ cung nào đây ? Nay Dịch lại viết: "chí vu bát nguyệt hữu hung" là nghĩa làm sao ?
       Hào Sơ quẻ Càn thì "tiềm" thì "ẩn", hào Tứ quẻ Khôn thì "thắt" thì "khóa".  Học trò Kinh Phòng hỏi thầy Tiêu Diên Thọ: "Vây thì Lục hư theo với Lục Giáp như thế nào ?"
       Thầy Tiêu Diên Thọ giảng rằng: "Lấy Sơ - Tứ định lệ cho Lục tử mà ứng Lục hư. Theo đó thì Giáp Tý - Giáp Ngọ phối Sơ - Tứ hai quẻ Chấn - Tốn, Giáp Thìn - Giáp Tuất phối Sơ - Tứ hai quẻ Khảm - Ly. Giáp Thân - Giáp Dần phối Sơ - Tứ hai quẻ Cấn - Đoài".

        Kinh Phòng sáng ý về lời giảng của Thầy, quẻ Càn làm chủ 4 cung ở ngoài, tới cung Ngọ thì phối với quẻ Tốn bên trong mà được quẻ Thiên Phong Cấu. Dịch lại nói: "Chí vu bát nguyệt hữu hung", có nghĩa rằng, từ cung Ngọ khởi can Giáp, tới cung Sửu là cung thứ 8, thì ứng với can Tân, theo Đất mà phối được Tân Sửu. Cho nên, Kinh thị dịch truyện - Kinh Phòng nói: "Sửu Ngọ hại, Tân phối Tốn cung". 

        Kinh Phòng tự vấn rằng: "Chí của ta mà không theo, thì điềm hung họa như Dịch nói, liệu rằng 8 tháng nữa vẫn đến chăng ?"

        Nay ta theo để khảo tập vậy.

Giải mã sự bình tĩnh lạnh lùng của người Nhật


       Tại sao người Nhật ngay cả trong thảm cảnh vẫn bình tĩnh một cách lạ thường? Hệ thống dân phòng được coi là xuất sắc nhất thế giới hoạt động ra sao? Cái gì chứa đằng sau cái gọi là “danh dự Samurai” và người Nhật đào tạo trẻ em theo hướng đó như thế nào?
       Dưới đây là lý giải của Phó giáo sư Dmitry Evstafyev, Chủ nhiệm Khoa Quan hệ quốc tế Trường Đại học Quốc gia Xanh Pêtécbua (LB Nga).
       Người Nhật lặng thinh nhìn những cơn sóng hung dữ phá tan nhà cửa và xoay tròn xe cộ như chiếc lá cây. Người Nhật úp chậu lên đầu, chạy ra khỏi những căn nhà sắp đổ sụp một cách trật tự. Tất cả những ai không phải là người Nhật coi đây là điều phi thực tế. Từ đâu mà người Nhật có được sức chịu đựng và tính quy củ trong bối cảnh “đất sụt, trời sập”?

       Meivaku là gì?

       Khái niệm meivaku là một phần của lối sống Nhật. Meivaku có nghĩa là làm phiền những người xung quanh bằng hành vi của mình. Hút thuốc ở nơi công cộng là xấu bởi anh đang gây ra meivaku cho tất cả những ai không có lý do để hít khói độc. Chẳng hay gì việc gây meivaku bằng cách buôn chuyện qua điện thoại trong văn phòng hay trên các phương tiện giao thông, ho và hắt hơi “đình đám”. Ngay cả những đứa trẻ cũng được dạy rằng tiếng khóc ầm ĩ của chúng gây meivaku cho mọi người. Chính đây là nguyên nhân đáng kể dẫn đến hành vi “không bộc lộ sự hoảng loạn ra ngoài mặt”. Người Nhật quá tự trọng và quá tôn trọng người khác nên không cho phép mình để cho cảm xúc sai khiến.
       Gần một tuần trôi qua kể từ khi xảy ra trận “siêu động đất” ngày 11/3 nhưng chưa có một bài báo, mẩu tin nào từ Nhật Bản viết về nạn hôi của hay trộm cắp, cướp bóc. Các chuyên gia cho rằng xã hội Nhật được kiến tạo theo kiểu tính trung thực được tôn rất cao.
       Người Nhật cũng biết vui sống và không nỡ chối bỏ cảm giác “phê” từ những “giọt cay”. Nhưng “rượu ngon” họ chỉ uống khi có “bạn hiền”, chủ yếu nhâm nhi vào tối thứ Sáu. Điều đáng nói là không ai tự rót cho mình cả - chén của mình để cho bạn rượu rót và ngược lại. Điều này có hàm ý “tôi say hay không là do bạn đấy”. Đây cũng là một cách giáo dục tinh thần trách nhiệm trước mọi việc.

       Người Nhật quay phải, người Âu quay trái

       Theo ông Dmitry Evstafyev, dĩ nhiên là nhà cửa và kiến trúc của Nhật Bản khác với ở Nga và châu Âu. Mỗi năm tại Nhật xảy ra 1.500 cơn địa chấn, hơn nữa chỉ có 16% lãnh thổ đất nước là thích hợp cho cuộc sống con người. Trên một diện tích hạn hẹp và trong tình trạng từng giây từng phút phải sẵn sàng đối mặt với động đất thì nhà cửa thường “bé như cái kẹo”. Nhiều người Nhật không đủ tiền để mua căn hộ để ở, phần đông vẫn phải thuê nhà.
       Tuy nhiên, người Nhật có những quy chuẩn rất nghiêm ngặt về điều kiện vệ sinh – môi trường. Ở Đất nước mặt trời mọc ta có thể uống nước lấy ngay từ vòi. Song, người Nhật đặc biệt tiết kiệm nước. Họ không thả mình vào bồn tắm theo kiểu người Mỹ hay người Âu mà cả nhà xếp hàng để ngâm mà không thay nước nóng. Dĩ nhiên trước đó ai cũng phải tắm vòi hoa sen cho sạch sẽ. Gian bếp thì bé tẹo, chủ yếu dùng bếp ga đôi. Đây là thói quen tiết kiệm mặt bằng, tiết kiệm thiên nhiên và hẳn là tiết kiệm cả tiền.

      Hãy hành động như tôi!

       Phó giáo sư Dmitry Evstafyev khẳng định rằng cần phải học ở người Nhật ý thức đối phó với thiên tai. Người Nhật đã chờ đợi trận động đất của ngày 11/3 suốt 20 năm nay, chỉ có điều không thể đoán trước ngày, giờ.
       Theo cách tích của các nhà nghiên cứu địa chấn Nhật Bản thì cứ khoảng 80 năm lại xảy ra một trận “siêu động đất” ở Đất nước mặt trời mọc. Trận “siêu động đất” năm 1923 ở tỉnh Kanto chỉ kém chút ít về cường độ so với “người em” của nó cách đây gần một tuần. Nó san phẳng hầu như toàn bộ các thành phố Tokio và Iokogama, cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người. Sở dĩ trận thiên tai địa chấn vừa rồi ít gây thiệt hại về người hơn là nhờ nước Nhật thường xuyên chuẩn bị đối phó. Người dân ý thức rất rõ rằng họ đang sống “trên thùng thuốc nổ”.
       Trận động đất năm 1923 xảy ra vào giờ trưa, khi nhiều gia đình đang nấu nướng. Vì vậy phần lớn nạn nhân chết là do hỏa hoạn. Bây giờ một trong những nguyên tắc đầu tiên khi bắt đầu cơn địa chấn là tắt bếp, khóa bình ga.
       Người Nhật được tập luyện kỹ để đối mặt với thiên tai địa chấn. Các “máy lắc” được chở đến từng trường học để trẻ em chui vào đó và làm quen với tình trạng rung rinh như khi xảy ra động đất. Bởi thế, khi thiên tai xảy ra thì ngay cả học sinh tiểu học cũng không hoảng loạn.
       Trong mỗi gia đình người Nhật đều có một chiếc va ly đựng những vật dùng tối cần thiết phòng khi gặp họa. Trong đó có cả những bộ quần áo chuyên dụng được cuộn chặt, gọn như hộp diêm. Hệ thống báo tin động đất và cảnh báo sóng thần hoạt động rất hiệu quả, trong đó có thông qua truyền hình và cả những biển quảng cáo trên đường phố.

Nguồn: Newsland
http://tamnhin.net/Sacmaucuocsong/9472/Giai-ma-su-binh-tinh-lanh-lung-cua-nguoi-Nhat.html

Giáp 1 - Canh 7

      Từ thời xa xưa, không biết từ thời điểm nào, cho tới ngày nay, cũng chưa biết đến bao giờ, sách Đạo Thư chỉ được soạn ra dành riêng cho Vua dùng, Hoàng Đế dùng. Khi xuống tới "Hội đồng quân cơ", thì tính chính xác và độ tin cậy thông tin ở trong sách Đạo Thư đã bị triết giảm, rồi xuống tới Tỉnh, Huyện, Xã, Thôn, Xóm.v.v... thì tính chính xác và độ tin cậy của thông tin ở trong sách còn bị triết giảm thêm nữa. Cũng có thể còn bị "man thư". Về vấn đề này không biết là "thực" hay "hư" ??? Cũng chẳng một ai xác minh, thật là kỳ lạ.

      Đổng Trọng Thư (179 - 104 tr.CN) cũng theo trường phái Quan học, toàn bộ sách về "Âm Dương gia" cũng không được lưu truyền. Rồi tới Kinh Phòng cũng soạn sách dâng Vua với lời lẽ nghiêm mật, rồi tới Trương Tải (1020 - 1077) triết gia thời Bắc Tống, cũng là người của trường phái Quan học, ...
rồi tới Thiệu Ung, ông có soạn tấu, viết sách chỉ dành riêng dâng trình lên Vua ? Tại sao Ông lại được Vua phong tặng danh hiệu ?

      Sự nghiêm mật của những sách nói về Thiên Cơ này, cũng chẳng biết là đúng hay sai !

      Cho nên, đâu đâu cũng chỉ thấy nói rằng: số trong Hà đồ là số sinh - thành của ngũ hành. Mà đâu có biết được rằng, số trong Hà đồ chính là số phản ánh quy luật chu kỳ của mặt Trời, thông qua từng quẻ Dịch trong 64 quẻ.

      Có mặt Trời, thì mới có Âm Dương vậy, có Âm Dương thì mới có Ngũ hành vậy. Vì vậy mà Thái cực sinh Một vậy, Một sinh 6 vậy, Sáu sinh 12 vậy, 12 sinh vạn vật vậy. Sao lại phân cách giữa phái Quan học với phái Dân học ? Tại sao trăm họ không được học về Âm Dương ? Phải chăng lỗi từ họ Đổng ! Hay từ vua Tần Thủy Hoảng !

      Dịch - quẻ Cổ - Lời quẻ nói: "Tiên Giáp tam nhật, hậu Giáp tam nhật".

      Khi xưa, ta còn mỏng manh thì hiểu rằng, trước can Giáp 3 ngày là can Bính, sau can Giáp ba ngày là can Quý. Rồi ta liền trở thành Giám đốc tự phong, và lập ngôn rằng: đây chẳng qua là nói về Chính ấn - Thực thần mà thôi. Thật là sai lầm tai hại khi tự phong mình làm Giám đốc, phải chăng là sự thèm khát Hóa quyền !

      Nay, ta có thêm chút tuổi, thì mới tự ngộ được rằng, Dịch nói "tiên - hậu" là chỉ về "ngôi thứ", hóa ra trước can Giáp 3 ngày là can Đinh, sau can Giáp ba ngày là can Tân.

      Can Giáp đứng ở đầu 10 can, là đầu mối của mọi sự mọi việc, của vạn vật trong trời đất. Ý nghĩa đầu tiên mà ta phải hiểu, đó là "có cuối ắt có đầu". Khi xưa, ngài Tiêu Diên Thọ lập thuyết, ông đề xuất Giáp chính là mặt Trời, khi phối ứng với Đất, mà thấy được đầu mối là từ Giáp Tý.

      Ngài Tiêu Diên Thọ nhận thấy rằng, Giáp Tý theo với hào Sơ quẻ Càn thì "tiềm" thì "ẩn", ứng hợp với hào Sơ quẻ Càn là hào Tứ quẻ Khôn, thì là "thắt" là "khóa". Ông hiểu rằng, đã là "tiềm", đã là "ẩn", thì ngài gọi là "độn Giáp"; đã là "thắt", đã là "khóa", thì ngài gọi là "độn Nhâm".

      Ngài tuân thủ theo những gì mà Dịch đã quy định, đó chính là quẻ Tốn. Lời hào Ngũ quẻ Tốn nói: "Tiên Canh tam nhật, hậu Canh tam nhật, cát", họ Tiêu đã đề xuất: lấy can Canh để tượng trưng cho sự "canh cải", "biến canh", để chỉ về sự thay đổi vậy. Nhưng trước Canh ba ngày là can Quý, sau Canh ba ngày là can Đinh, họ Tiêu nhận thấy sự trùng lập của can Giáp và Canh đều ở ngôi vị can Đinh. Khi Giáp thống lĩnh dẫn đầu, thì can Đinh ở ngôi vị số 4, Ông thấy thật khó hiểu ???

      Căn cứ vào Lời quẻ Cổ, cùng với Lời hào Ngũ quẻ Tốn, họ Tiêu đề xuất và xây dựng thuyết về can Giáp: "có cuối ắt có đầu", và từ can Canh: "không có đầu mà lại có cuối".

      Lời quẻ Phục nói: "thất nhật lai phục", rồi Lời hào Nhị quẻ Chấn nói: "thất nhật đắc"

      Ta chưa hiểu Ông sẽ xây dựng học thuyết cho mình như thế nào !
 

Thế giới lại trước nguy cơ tuyệt chủng hàng loạt

Theo một kết quả nghiên cứu đăng tải trên tạp chí khoa học Nature, nhân loại đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hàng loạt các loài lần thứ sáu trong lịch sử Trái Đất.
Nghiên cứu cho biết trong vòng hơn 540 triệu năm qua, đã có năm đợt "xóa sổ" lớn đối với các loài do các sự kiện thiên nhiên gây ra. Tuy nhiên, mối đe dọa lần này do con người, với việc đánh bắt, săn bắn quá mức, sự lây lan của vi trùng và virus, và tình trạng biến đổi khí hậu do khí thải nhà kính gây ra.
Các nhà cổ sinh học tại Đại học California ở Berkeley, Mỹ, nói rằng các bằng chứng từ các hóa thạch cho thấy trong năm vụ tuyệt chủng lớn trước đây, ít nhất 75% tất cả các loài động vật đã bị tiêu diệt.
Theo các nhà khoa học, trước khi diễn ra sự mở mang lớn của nhân loại cách đây 500 năm, sự tuyệt chủng đối với các loài động vật có vú rất hiếm hoi, trung bình cứ một triệu năm chỉ có hai loài biến mất. Nhưng chỉ trong vòng năm thế kỷ qua có ít nhất 80 trong số 5.570 loài động vật có vú đã bị biến mất. Rõ ràng đây là một lời cảnh báo rõ ràng về mối thảm họa đối với sự đa dạng sinh học.
Nhà khoa học Anthony Barnosky nói rằng: "Có vẻ tỷ lệ tuyệt chủng thời kỳ hiện đại giống như một đợt tuyệt chủng hàng loạt."
Dựa vào giả định cho rằng những loài bị xóa sổ và sự mất đa dạng sinh học tiếp tục không được kiểm soát, thì đợt tuyệt chủng hàng loạt lần thứ sáu có thể sẽ diễn ra trong vòng khoảng 3-22 thế kỷ nữa. Và so với những đợt tuyệt chủng trước thì tốc độ lần này sẽ diễn ra một cách nhanh chóng, ông Barnosky cho biết.
Các nhà khoa học nói rằng đợt tuyệt chủng lớn nhất trước đây xảy ra vào thời kỳ cuối của Kỷ Phấn trắng, cách đây khoảng 65 triệu năm, khi một ngôi sao chổi hoặc một mảnh thiên thạch rơi xuống bán đảo Yucatan, ngày nay là Mexico, tạo ra những cơn bão lửa phủ bụi khắp hành tinh. Có ít nhất 76% các loài đã bị chết, bao gồm cả các loài khủng long.
Cho đến nay, các nhà khoa học mới chỉ xác định được 1,9 triệu loài động vật trên hành tinh, và có khoảng 16-18 nghìn loài mới được đưa vào danh sách mỗi năm./.

Khắc Hiếu/Washington (Vietnam+)

Giọng nói tố cáo

      Trong hành trình tìm kiếm tình yêu, bản năng mách bảo phụ nữ rằng đấng mày râu có giọng càng trầm thì nguy cơ phản bội tình yêu của họ càng cao.
    The Medical News cho biết, các nhà tâm lý của Đại học McMaster tại Canada muốn tìm hiểu mối liên hệ giữa độ cao của giọng nói và mức độ chung thủy của con người. Họ tin rằng, nghiên cứu sẽ giúp giới khoa học hiểu rõ hơn quá trình tiến hóa của giọng nói và cách thức con người chọn bạn tình.
      Nhóm nghiên cứu ghi âm giọng nói của một người đàn ông. Họ tăng và giảm cao độ của giọng bằng phần mềm biên tập âm thanh để tạo ra hai clip mới rồi. Sau đó họ yêu cầu các tình nguyện viên nghe hai clip rồi dự đoán người không chung thủy trong tình yêu từ hai phiên bản giọng.
      Quy trình trên được lặp lại lần thứ hai, nhưng với giọng của một phụ nữ.
      Kết quả cho thấy, các tình nguyện viên dự đoán đấng mày râu sở hữu giọng nam trầm có mức độ không chung thủy cao hơn so với người nói giọng nam cao. Đối với hai giọng nữ, họ cho rằng, người nói giọng nữ cao có nguy cơ phản bội lớn hơn người có giọng nữ thấp.
      "Chúng tôi phát hiện ra rằng, bản năng mách bảo cả đàn ông và phụ nữ phán đoán nguy cơ phản bội của bạn tình qua giọng nói. Chúng ta đều cho rằng, giọng nói của ai đó càng hấp dẫn thì khả năng phản bội trong tình yêu của người ấy càng cao", Jillian O'Connor, trưởng nhóm nghiên cứu, phát biểu trên tạp chí Evolutionary Psychology.
      O'Connor cho rằng, sự phản bội trong tình yêu không chỉ gây nên tác động xấu về mặt tình cảm, mà còn dẫn đến tổn thất về tài chính và nguy cơ tan vỡ gia đình. Vì thế mà trong quá trình tiến hóa, loài người luôn tránh quan hệ tình cảm với những người không chung thủy. Bản năng dạy con người cách nhận diện họ qua giọng nói. Phần lớn phụ nữ nghĩ những đấng mày râu có giọng càng trầm thì nguy cơ phản bội trong tình yêu càng cao. Ngược lại, phần lớn nam giới đánh giá nguy cơ không chung thủy ở phụ nữ có giọng cao lớn hơn so với những chị em có giọng thấp.
      Giáo sư David Feiberg, một thành viên của nhóm nghiên cứu, giải thích rằng, cao độ của giọng nói có mối quan hệ với hoóc-môn và bản tình trăng hoa. Ở nam giới, nồng độ testosterone (hoóc-môn dục tính nam) càng cao thì giọng của họ càng trầm. Ngược lại, những phụ nữ sở hữu giọng cao thường có nồng độ estrogen (hoóc-môn dục tính nữ) lớn.
      "Nồng độ testosterone và estrogen trong cơ thể càng cao thì nguy cơ ngoại tình của con người càng lớn. Phát hiện của chúng tôi cho thấy, mỗi con người, bằng cách nào đó, nhận ra mối quan hệ này và luôn nhớ tới nó trong quá trình tìm kiếm bạn tình", Feiberg phát biểu.

http://www.khoahoc.com.vn/khampha/kham-pha/31917_Giong-noi-to-cao-nguoi-lang-nhang.aspx


Quẻ Phục


     
      Quẻ Phục, một trong 64 quẻ, do hạ Chấn thượng Khôn hợp thành, tượng trưng cho sự “hồi phục”, trình bầy tình trạng chính khí của sự vật được phục hồi, sức sống mới nảy nở, như vẽ ra cảnh tượng mặt đất dương khí nhỏ bé mới lay động nhen nhúm, mùa Xuân sắp trở lại.
     
      Lời quẻ: Quẻ Phục tượng trưng cho sự hồi phục, hanh thông. Dương khí sinh ra từ bên trong, lớn lên ở bên ngoài, không tật hoạn gì, bạn bè cương kiện đến không tai hại gì; quay trở lại theo một quy luật nhất định, qua bảy ngày thì quay lại như xưa. Lúc này có lợi cho việc tiến tới.
      [Phục, hanh. Xuất nhập vô tật, bằng lai vô cữu; phản phục kỳ đạo, thất nhật lai phục, lợi hữu du vãng.]
      Giải: ‘Phục’ là tên quẻ, tượng trưng cho sự ‘hồi phục’, ‘xuất’ chỉ Khí dương lớn ở bên ngoài; ‘nhập’ chỉ Khí dương sinh ra ở trong; ‘vô tật’ là không hại gì; ‘bằng’ ở đây là chỉ Khí dương.
      Lý Đỉnh Tộ - Chu dịch tập giải dẫn lời Hà Thỏa nói: “Nói Phục, là tên gọi sự  trở về gốc. Bầy âm phá (bóc) dương hầu như suy kiệt, âm phá dương đến tận cùng; một dương đến phía dưới, cho nên gọi là quay trở lại. Khí dương trở lại, mà mọi vật được lưu thông, giao hòa, cho nên nói ‘phục’ là hanh thông”. Quẻ Phục một hào dương bắt đầu sinh trưởng , thì các hào âm lấy nó làm bạn, cho nên nói ‘bằng lai’; ‘phản phục’ chỉ dương cương quay lại hồi phục; ‘đạo’ cũng như nói quy luật; ‘thất nhật’ tượng trưng cho sự hồi phục nhanh chóng, cũng như nói ‘không đến 7 ngày’.
      Trình Di nói: “Xuất nhập nghĩa là sinh trưởng. Sinh, rồi quay trở lại bên trong, là nhập; lớn rồi tiến ra ngoài, là xuất. Nói xuất trước là nói cho thuận mà thôi. Dương sinh ra không phải từ bên ngoài, mà là đến ở bên trong, cho nên gọi là nhập. Lại nói “ Khí dương mùa xuân phát ra khí âm lạnh tan dần đi, cứ xem cây cỏ vào lúc sớm tối có thể thấy rõ. ‘Xuất nhập vô tật’, nghĩa là khí dương nhỏ sinh ra rồi lớn lên, không có gì làm hại nó”.
      Vương Bật giải thích về “thất nhật” nói: “Khởi đầu thì Khí dương bị ‘bác’ hết đến khi hồi phục là 7 ngày”. Ý nói là hồi phục nhanh.
      Toàn văn Lời quẻ có thể chia làm ba phần để lý giải: Một, trước tiên nói Khí dương bắt đầu hồi phục thì tất lưu thông mà được hanh thông; Hai, nêu rõ Khí dương khi đã phục hồi thì tất là có lợi mà không thể có hại, Khí âm có được Khí dương, thì phát huy tác dụng mà hướng tới giá trị có ích, không gây nên tai hại. Con đường ‘phục dương’ lại thuận với quy luật nội tại, gặp thời thì hồi phục rất nhanh; Ba, đó là tổng kết ý nghĩa ‘phục, hanh’, nói rõ việc vào thời ‘hồi phục’, khí thế dương cương phát triển thuận lợi, mạnh mẽ, cho nên có lợi cho việc tiến tới. Khổng Dĩnh Đạt nói: “Với sự phương trưởng của Khí dương, nếu mà có sự đi, thì đạo của tiểu nhân sẽ bị tiêu mòn”.
      Cùng ở trên thì trở xuống dưới, dương bị Bác cực ở trên thì ở dưới sinh. Cùng ở bên ngoài thì trở lại bên trong, dương bị Bóc đến tận cùng ở bên ngoài thì bên trong lại sinh. Đây là quy luật của đại tự nhiên.
      Một dương lại sinh ở trong đất, đó là thời điểm tháng 10 âm đã cực thịnh. Chu Hi nói: “Tháng 10 là quẻ Khôn, thuần âm tự giao. Quá tháng 10, tiết khí vẫn là thuần âm nhưng dương đã ngầm sinh ở dưới đất, chứa tích đầy tháng. Vả lại một tháng chia làm 30 phân, lại chia ra Giờ là 360 phân, đó là thời Dương đến. Đến tháng 11 tiết Đông chí mới sinh được một vạch dương, đó là một phần trong sáu phần trong quẻ, mà ở dưới đất có hai vạch, lại cứ đi lên đến ba vạch, là đã đủ cả ở trên đất, đến 4 dương, 5 dương, 6 dương, cứ chồng lên mãi cho tới Đông chí thì đủ sinh một dương. Đó là cơ mật chuyển vận của trời đất. Phàm một khí tiến lên cũng chẳng thấy, một hình bớt đi cũng chẳng biết. Cũng như thân thể người ta từ trẻ tới già vậy”. Xét, tháng 5 quẻ cấu một âm mới sinh, đến hào Sơ quẻ Phục là hào 7, dương lại đến, cũng là thiên vận tự nhiên.
      “Thất nhật lai phục”, Bùi Văn Nguyên đưa ra một kiến giải: “Thất biến viết lai phục” (Bảy lần biến gọi là phục).
       Theo truyền thống tượng số học, số 7 tượng trưng cho chu kỳ tuần hoàn trong vũ trụ, sự tuần hoàn mặt trời với mặt trăng, cứ theo chu kỳ 7 tháng lại giao hoán vị trí một lần, từ tháng Ngọ tới tháng Tý, hoặc từ tháng Tý tới tháng Ngọ gồm 7 tháng. Trong một quẻ Dịch chỉ có sáu hào, đến hào thứ 7 tức là bắt đầu lại từ đầu (tức là bắt đầu hào mới), đây là nguyên tắc vận hành sinh hóa trong vạn vật. Từ quẻ Cấu, kế tiếp đến quẻ Phục, đứng hàng thứ 7 trong thứ tự nói trên.

      Thoán truyện nói: Hồi phục là hanh thông, nói dương cương vừa mới quay lại; dương động quay trở lại mà tiến tới thuận lợi, thông suốt, cho nên dương khí sinh ra từ bên trong, lớn lên ở bên ngoài, không bệnh tật gì, bạn bè cương kiện đến không tai hại gì. Trở lại hồi phục theo quy luật nhất định, không quá 7 ngày thì sẽ quay trở lại. Đây là quy luật vận hành của tự nhiên. Lúc này có lợi cho sự tiến tới, nói rõ dương cương ngày càng lớn mạnh. Quy luật hồi phục là thể hiện tấm lòng trời đất sinh sôi và nuôi dưỡng muôn vật chăng ?
      [Thoán viết: Phục, hanh, cương phản; động nhi thuận hành, thị dĩ xuất nhập vô tật, bằng lai vô cữu. Phản phục kỳ đạo, thất nhật lai phục, thiên hành dã. Lợi hữu du vãng, cương trưởng dã. Phục, kỳ kiến thiên địa chi tâm hồ ?]
      Giải: ‘Phục, hanh, cương phản’ như nói ‘dương quay trở lại’ chỉ hào Sơ dương quay trở lại rồi đi lên. Câu này nêu tượng một hào dương ở dưới quẻ phục hồi đi lên, ý chỉ dương cương quay trở lại rồi phát triển, cũng là để giải thích tên quẻ là gọi là Phục.
      Động nhi thuận hành, thị dĩ xuất nhập vô tật, bằng lai vô cữu – câu này nêu tượng quẻ  hạ là quẻ Chấn động, quẻ thượng Khôn là thuận, nói rõ ở vào thời ‘hồi phục’, dương động mà phát triển đi lên, thuận lợi không có trở ngại, quần âm vui mừng nhận âm là bạn
      Phản phục kỳ đạo, thất nhật lại phục, thiên hành dã – câu này nói rõ quy luật vận hành của đại tự nhiên là ‘bác’ hết thì ‘phục’ đến.
      Lợi hữu du vãng, cương trưởng dã – câu này dụ ý chỉ thế của dương cương trong quẻ Phục ngày càng lớn mạnh.
      Phục, kỳ kiến thiên địa chi hồ ? – nêu rõ ‘dương phục’ là tấm lòng của trời đất sinh sôi nuôi dưỡng muôn vật, ca ngợi đại nghĩa của quẻ Phục.

      Đại tượng nói: Tiếng sấm cựa mình trong lòng đất, tượng trưng dương khí phục hồi; bậc tiên vương vì thế trong ngày Đông chí, dương khí bắt đầu lay động thì đóng cửa quan để tĩnh dưỡng; người buôn bán khách lữ hành không được đi xa, vua chúa không đi tuần thú bốn phương.
     [Tượng viết: Lôi tại địa trung, Phục, tiên vương dĩ chí nhật bế quan, thương lữ bất hành, hậu bất tỉnh phương.]
     Giải: ‘chí nhật’ tức là ngày Đông chí, ‘bế quan’ là đóng cửa ải; ‘tỉnh phương’ là đi thị sát bốn phương. Lời Đại tượng trước hết nêu tượng quẻ Phục, Chấn dưới là Lôi, Khôn trên là đất, chỉ sấm nổ trong lòng đất, chính là tượng trưng cho dương khí hồi phục; sau đó suy ra việc tiên vương nhìn tượng đó, thì vào ngày Đông chí dương khí bắt đầu hồi sinh, phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để giúp cho sự phát triển đi lên được thuận lợi, khách buôn đều không đi xa, vua chúa cũng không đi tuần sát bốn phương, cả thiên hạ cùng nghỉ ngời tĩnh dưỡng, nhằm giúp cho dương khí phục hồi.
      Bạch hổ thông – Chu phạt thiên viết: “Vì lẽ gì mà ngày Đông chí không xuất quân, không làm việc, đóng cửa quan, thương nhân lữ khách không đi xa. Bởi ngày đó dương khí còn nhỏ yếu, bậc vương giả tuân theo lý trời, để cho thiên hạ được yên tĩnh, không làm công việc gì nhằm cho giúp dương khí còn nhỏ bé, thành tựu muôn vật”.
      Xét, ‘chí nhật’, Vương Bật nói là ‘Đông chí Hạ chí’. Thượng Bỉnh hòa cũng nói: ‘Cả hai ngày chí’, lại nói ‘có lẽ ngày xưa trọng nhất hai ngày chí’. Đông chí ở nửa giờ Tý, tức là ở chỗ một nửa của tháng 11.
      Lý Đỉnh Tộ - Chu dịch tập giải dẫn lời Tống Trung nói: “Thương gia lữ khách không đi xa, từ thiên tử đến công hầu không đi tuần thú bốn phương, cốt để nâng đỡ dương khí, giúp cho dương khí được toại ý, để thành tựu vương đạo. Định ra chế độ là việc của vương giả, chấp hành chế độ là phận sự của quân hậu, cho nên trên thì nói ‘tiên vương’ mà dưới nói ‘hậu”.
      Sấm là âm dương gần nhau mà thành tiếng. Chu Hi nói: “Đóng cửa ải, ý nói như người đi vào đường mê mà biết trở lại, đó là cái mối thiện đã nảy mầm, phải nên bồi dưỡng cho lớn, nếu không thì các mầm thiện sẽ mất”.

      Lời hào Sơ cửu: Chưa đi xa (trên đường mê) mà biết quay lại chính đạo, thì không có tai họa hối hận gì, sẽ dẫn đến tốt lành.
      [Sơ cửu, Bất viễn phục, vô kỳ hối, nguyên cát.]
      Giải: ‘Bất viễn phục’ chỉ hào Sơ cửu một mình là dương ở dưới cả bầy âm, là ngôi đầu quẻ Phục, thể hiện rõ đạo ‘Phục’, có tượng chưa đi xa đã biết quay lại, cho nên vô tai vô hối, mà được nguyên cát. Vương Bật nói: “Chưa đi xa đã biết quay lại, vì hối hận mà biết quay trở lại, lấy đó sửa mình, tai ương hoạn nạn ắt lùi xa”.
      Lục Đức Minh – Kinh điển thích văn – dẫn lời Trịnh Huyền, giải thích ‘kỳ’ là ‘bệnh’. Thượng Bỉnh Hòa đã khảo sát kỹ trường hợp này, nói có lẽ Trịnh Huyền căn cứ vào Mao thi truyện, sau đó chỉ rõ ‘bệnh’ tức là tai họa; ‘Phục’ xuất nhập vô tật’ cho nên vô tai hối. Thuyết này nên theo. Chứng tỏ Lời quẻ giá trị hơn Lời hào.
      Xét, Tiểu tượng truyện của hào Sơ cửu nói nghĩa của lời hào ‘bất viễn phục’ là ‘tu thân’ (sửa mình) là suy diễn phát huy ngụ ý tượng trưng của lời hào. Hệ từ hạ truyện dẫn lời Khổng Tử giải thích nghĩa đó là ‘tri bất thiện vị thường phục hành’ (biết rõ là không tốt thì không bao giờ lặp lại). Trình Di theo đó mà bàn rằng: “Chưa đi xa đã biết quay trở lại, đó là con đường tu thân của người quân tử. Con đường học vấn không có gì khác, chỉ có một điều là biết là không tốt thì sửa ngay để theo cái tốt mà thôi”.
      Tiểu tượng nói: “Chưa đi xa thì quay lại đường ngay”, chứng tỏ hào Sơ cửu đã biết sửa mình vậy.
      [Tượng viết: “Bất viễn chi phục”, dĩ tu thân dã.]
      Giải: tượng truyện lấy câu ‘sửa mình’ để giải thích câu ‘không xa đã quay trở lại’, đây là phát triển và làm sáng tỏ ngụ ý tượng trưng trong lời hào. Khổng dĩnh Đạt nói: “Sở dĩ đi chưa xa đã quay trở lại sớm, là vì biết sửa mình cho tốt, biết lỗi thì sửa ngay”.

      Lời hào Lục nhị: Sự hồi chuyển trở lại tốt đẹp, cát tường.
      [Lục nhị, hưu phục, cát.]
      Giải: ‘hưu’ là tốt.
      Lời hào nói hào Nhị ở vào thời dương khí hồi phục, nhu trung đắc chính, cũng như gần người nhân, dưới người hiền, cho nên nhờ hồi phục sự tốt đệp mà được cát. Vương Bật nói: “Đắc vị, cư trung, ở trên gần hào Sơ mà phục thuộc vào nó, nên thuận theo nó, như vậy tức là ‘hạ nhân’ (ở dưới người nhân). Đã ở ngôi giữa, gần nhân, cạnh thiện, đó là ‘hưu phục”.
      Xét, dương cương là tượng trưng cho ‘nhân’ và ‘thiện’, hào Lục nhị lại khéo gần người nhân, đây là mấu chốt của cát. Chu Hi chỉ rõ: “Học không gì thuận tiện hơn là gần người nhân, đã có người nhân gần gũi, nhờ đức thiện của người ấy bồi đắp cho mình, thì sức đỡ tốn mà học tốt”.
      Tiểu tượng nói: “Quay trở lại một cách tốt đẹp thì được cát tường”, chứng tỏ hào Nhị có thể hạ mình xuống gần gũi với người có đức nhân.
      [Tượng viết: “Hưu phục chi cát”, dĩ hạ nhân dã.]
      Giải: Khổng dĩnh Đạt nói: “Đắc vị xử trung, gần gũi nhất với Sơ. Dương là đức nhân, mình lấy đức đó, hạ mình xuống thuận theo nó, thì là ‘hạ nhân’, là hồi phục một cách tốt đẹp, vì hạ mình xuống với người nhân, cho nên cát”.

      Lời hào Lục tam: Cau mày gắng gượng quay trở về, tuy có nguy hiểm nhưng không có tai hại.
      [Lục tam, Tần phục, lệ vô cữu]
      Giải: ‘tần’ là nhíu mày, cau mày; Vương Bật chú: “Tần, là dáng vẻ buồn bã nhăn mày”; Trình Di giải thích “tần là tần số” (nhiều lần). ‘Lệ’ là nguy.
      Lời hào nói hào Lục tam ở vào thời ‘dương khí hồi phục’, là hào âm, ở ngôi vị trên cùng của hạ quái, thất chính vô ứng, trên dưới đều là âm, có nhiều khó khăn trong việc ‘phục thiện’, cho nên có tượng ‘cau mày hồi phục’; lúc này ngôi vị của Lục tam tuy nhiều nguy hiểm, nhưng nếu biết là nguy mà cố gắng hồi phục thì cũng không có tai hại. Thượng Bỉnh Hòa nói: “Lục tam thất vị, cho nên ‘tần phục’. Vì là ‘thất vị’, trên dưới đều âm, lại vô ứng, khó khăn có thẻ nói là cùng cực, cho nên ‘tần phục, lệ’. Biết nguy hiểm mà phấn đấu hồi phục, thì sẽ được vô cữu”. Thể nhu mà ở ngôi cương, thì thường dẫn tới ‘lẫn’, ‘lệ’, ứng với người thì có tượng cứ sửa lỗi rồi lại sửa tiếp lỗi, loại người không can đảm.
      Trình Di cho rằng Lục tam âm táo, ở ngôi vị động cực, nhiều lần ‘phục’ mà không được vững chắc. ‘Phục’ quý ở vững chắc, nhiều lần ‘phục’ thì nhiều lần hỏng, không thể yên ổn hồi phục. Phục thiện mà thất bị liên tiếp, thì con đường nguy. Tháng nhân mở ra con đường quay về thiện, nay ‘phục’ mà nguy vì liên tiếp thất bại, cho nên nói ‘lệ vô cữu’. Thuyết này khảo chứng thấy mang tính thực tiễn, tham cứu thêm.
      Tiểu tượng nói: “Cau mày gắng gượng hồi phục vì có nguy hiểm, nhưng Lục tam cố gắng quay lại chính đạo”, xét về ý nghĩa của vật, thì không có hại gì.
      [Tượng viết: “Tần phục chi lệ”, nghĩa vô cữu dã.]
      Giải: ‘nghĩa’ như  nói ‘ý nghĩa của sự phục thiện’. Trình Di giảng: “Nhiều lần hồi phục nhiều lần thất bại (tần phục). Tuy có nguy hiểm, nhưng về ý nghĩa của sự phục thiện thì vô cữu”.
      Lý Sỹ Trân nói: “Sửa lỗi mà hướng thiện, tuy nguy nhưng vô cữu”. Lễ ký nói: Hoặc ở yên mà trở lại, là tượng của hào Sơ. Hoặc lợi mà trở lại, là tượng của hào Nhị. Hoặc gắng gượng trở lại, là tượng của hào Tam. Những câu này dẫn lời trong Lễ Ký – Trung dung để giải thích tượng của ba hào Hạ quái, cũng có thể chấp nhận.

      Lời hào Lục tứ: Ở ngôi trung vị thực hành chính đạo mà chuyên tâm hồi phục.
      [Lục tứ, Trung hành, độc phục.]
      Giải: ‘Trung’ chỉ hào Lục tứ ở ngôi vị giữa trong 5 hào âm quẻ Phục. ‘Độc’, cũng như nói ‘chuyên tâm’ chỉ ý duy có Lục tứ ứng với Sơ cửu, ý tình chuyên nhất, cho nên có tượng ‘độc phục’. Hán thượng Dịch truyện dẫn lời Trịnh Huyền nói: “Hào ở giữa năm hào âm, ở giữa mà vào hàng chính vị, riêng có hào Tứ là ứng với hào Sơ thôi”. Trong Dịch, hai chữ ‘trung hành’ còn được nói tới ở lời hào Tam quẻ Ích: “trung hành cáo công dụng khuê’, và trong lời hào Ngũ quẻ Quải: “nghiễn lục, quải quải, trung hành, vô cữu”. Cao Hanh giải thích ‘trung hành độc phục’ là: “Cùng với người đồng hành, đến giữa đường thì bản thân lại một mình quay trở lại”.
      Lời hào nói hào Lục tứ ở vào thời ‘phục’, ở ngôi vị giữa năm hào âm, lại ở chính vị, trong năm hào âm chỉ mình hào này là ứng với hào dương Sơ cửu, tình càng chuyên nhất. Vương Bật nói: “Hào Lục tứ, trên dưới mỗi bên có hai hào âm, mà ở vào giữa lại được chính, dưới ứng với Sơ cửu, riêng một mình có thể hồi phục. Thuận đường này mà quay trở lại, không gì xâm phạm được, cho nên nói ‘trung hành độc phục”.
      Chu dịch chiết trung dẫn lời Liêu Xương Kỳ nói: “Đại để ‘phục’ sở dĩ là ‘phục’, toàn là ở hào Sơ, cũng như ý nghĩ ban đầu của con người vậy. Năm hào âm đều phục thế thôi, chỉ có Tứ trong các hào âm là có hướng riêng, cho nên có nghĩa ấy”. Lấy chất âm mà ở ngôi âm thì rất nhu nhược, tuy có chí theo cương mà cũng chẳng giúp được, cho nên không thể nói ‘vô cữu’. Ở giữa bầy âm cho nên cũng không nói là ‘cát’ hay ‘hung’.
      Hào Tam ở quẻ Bác và hào Tứ ở quẻ Phục về nghĩa cũng giống nhau, quẻ Bác thì lấy ‘thất thượng hạ’ để ứng với dương, quẻ Phục thì lấy ‘độc phục’ để theo đạo dương cương.
      Tiểu tượng nói: “Ở ngôi trung vị, thực hành chính đạo mà dốc lòng hồi phục”, chứng tỏ hào Lục tứ tuân theo chính đạo.
      [Tượng viết: “Trung hành độc phục”, dĩ tòng đạo dã.]
      Giải: lời Tiểu tượng truyện hào Tứ  giải thích nội hàm tượng trưng của lời hào Lục tứ “Trung hành độc phục”. Khổng Dĩnh Đạt nói: “Theo đạo mà quay trở lại, cho nên tượng nói ‘dĩ tòng đạo dã”. Trình Di giảng là: “Nói ‘độc phục’ là do nó theo đạo thiện của quân tử dương cứng”.

      Lời hào Lục ngũ: Hồi phục một cách chân thành đôn hậu, thì không có hối hận.
      [Lục tứ, đôn phục, vô hối.]
      Giải: ‘đôn’ là đôn hậu. Lục Đức Minh dẫn Hàn thi ngoại truyện giải nghĩa ‘đôn’ là ‘ép buộc’. Cao Hanh giải nghĩa ‘đôn’ nguyên gốc là ‘đôn đốc ép buộc’. Khi ta coi đây là chính sách thu phục nhân tâm của ngôi tôn quý, thì ta hiểu ‘đôn phục’ có nghĩa là ‘bị người đôn đốc ép buộc thì mới chịu quay về’. Lưu ý trong Mạnh Tử, thì ‘đôn’ cũng được dùng theo nghĩa ‘đôn đốc, giám sát’.
      Đây nói hào Lục ngũ ở vào thời ‘Phục’, thể nhu mà ở vào ngôi vị tôn quý, giữ được trung chính, có tượng chân thành tự xét mình, thành khẩn vươn tới thiện, cho nên tuy thất vị, vô ứng, vẫn có thể ‘đôn phục’, mà tránh được hối hận. Vương Bật nói: “Đôn hậu mà lại ở ngôi trung thì có thể tự xét mình, tuy chưa đến mức ‘hưu phục’ để được ‘cát’, nhưng đôn hậu hồi phục thì cũng tránh được hối”. Trình Di nói: “Lục ngũ có trung thuận, ở ngôi quân vị, là biết đôn hậu chân thành phục thiện, cho nên vô hối. Tuy vốn là thiện, nhưng vẫn có sự nhắc nhở trong đó. Khi dương phục đang yếu, với chất âm nhu mà cư tôn vị, dưới không có phụ trợ, chưa thể hanh cát, chỉ có thể ‘vô hối’ mà thôi”.
      Tiểu tượng nói: Quay trở lại một cách đôn hậu, thành khẩn thì không hối hận gì”, chứng tỏ hào Lục ngũ cư trung và có thể tự xét mình để quay về điều thiện.
      [Tượng viết: “Đôn phục vô hối”, trung dĩ tự khảo dã.]
      Giải: ‘khảo’ theo Trịnh Huyền giảng là ‘thành’, theo Hướng Tú giải thích ‘khảo là sát’, ‘Tự khảo’ như nói tự phản tỉnh xem xét mình, thành tựu mình.
      Trần Mộng Lôi đưa ra thuyết phân tích nghĩa hào rất sát rõ: “Hào Ngũ và hào Sơ không gần gũi, không ứng nhau mà trở lại, đó là biết nguy khốn song mệt mỏi gắng gượng mà làm, cho nên nói ‘tự khảo’. ‘Tự’ tức ý nói là ‘người thì một phần ta thì trăm phần’. Cho nên hào Ngũ vốn xa hào dương, nhưng vốn ở ngôi giữa mà có thể thuận. Nhờ hào Tứ tự trở lại mà mình càng có quyết tâm hơn, lại thêm có được sự đôn hậu, cho nên có thể thành tựu cho mình”.

      Lời hào Thượng lục: Vào lối mê mà không biết trở lại, có hung hiểm, có tai họa. Dùng vào việc hành quân đánh giặc, sẽ thất bại thảm hại. Dùng vào việc trị nước, thì nước loạn vua nguy, đến mười năm sau cũng không thể chấn hưng phát triển được.
      [Thượng lục, Mê phục, hung, hữu tai sảnh. Dụng hành sư chung hữu đại bại; dĩ kỳ quốc, quân hung, chí vu thập niên bất khắc chinh.]
      Giải: ‘mê phục’ là mê không biết quay trở lại. ‘Tai sảnh’ là tai ương hoạn nạn. Trịnh Huyền chú giảng là : “Tai dị sinh ra từ bên trong gọi là ‘sảnh’, từ bên ngoài gọi là ‘tường’. Hại vật gọi là ‘tai”. Trình Di tiếp theo ý của Trịnh Huyền nói: “Tai là thiên tai từ ngoài đưa đến; ‘sảnh’ là lỗi của mình, tự mình gây ra”. ‘Dụng’ là dụng vào. ‘Thập niên’ ý nói thời gian dài. ‘Chinh’ là tiến lên, như nói chấn hưng phát triển.
      Lời hào nói rõ về hào Thượng ở vào thời ‘Phục’, thể âm ở cuối quẻ, không ứng với hào dương Sơ cửu, không thừa theo ai ở trên, là tượng mê muội không biết quay lại, cho nên nói ‘hung, hữu tai sảnh’, có nghĩa là hoạn nạn vừa ở trong vừa ở ngoài. Lúc này hào Thương lục đã bước vào lối mê mà không biết quay lại, nếu dùng để hành quân, trị nước, thì tất sẽ thất bại, hại vua, sẽ đem lại hậu quả rất nguy hại, cho nên nói ‘chung hữu đại bại’, ‘quân hung’, ‘thập niên bất khắc chinh’.
      Trình Di nói: “Thể âm nhu ở ngôi cuối quẻ Phục, đó là mê mà không biết quay lại, mê mà không biết quay lại thì sự hung không nói cũng rõ. ‘Hữu tai sảnh’, ‘tai’ là thiên tai, sinh ra từ ngoài, ‘sảnh’ là lỗi của mình, do mình gây ra. Đã mê mà không biết phục tỉnh, thì với mình, làm gì cũng sai, tai họa cũng tà ngoài đến, và cũng do tự mình vời gọi lại. Lạc đường không quay trở lại, không làm còn đỡ, dùng vào việc hành quân ắt sẽ đại bại; dùng vào việc trị nước thì nguy cho vua. Mười năm, là cực số chỉ sự nhiều nhất, còn như nói ‘thập niên bất khắc chinh’, chính là nói ‘cuối cùng không thể làm gì được”.
      Thượng Bỉnh Hòa giảng là: “Bất khắc chinh’ là nói ‘không thể hưng khởi được’. Nước và vua chịu tai họa, cái gốc chịu lay chuyển, cho nên hung đến mười năm”.
      Hồ Bính Văn nói: “Mê phục’ là trái với ‘bất viễn phục’; ‘thập niên bất khắc chinh’ là trái với ‘thất nhật lai phục”. Có thể thấy hào Thượng quẻ Phục ở mãi tận cùng quẻ Phục, đã hoàn toàn lìa bỏ con đường hồi phục, cho nên Lời hào dùng ‘hung’, ‘tai sảnh’ để cảnh cáo.
      Tiểu tượng nói: “Sự hung hiểm của việc lạc vào đường sai lầm mà không biết quay trở lại”, chứng tỏ hào Thượng lục đi ngược lại con đường của bậc quan chủ dương cương.
      [Tượng viết: “Mê phục chi hung”, phản quân đạo dã.]
      Giải: ‘Phản’ là đi ngược lại. Âm là bề tôi, Dương là vua. Hào Thượng đi sai đường mà không biết con đường phục dương, cho nên nói ‘phản quân đạo’.
      Tả truyện – Tương công năm thứ 28 giải thích ‘mê phục hung’ là ‘bỏ mất gốc’. Mã Kỳ Sưởng nói: “Âm không theo dương”. Thuyết này có thể theo.
      Lời hào Thượng cho thấy hào Thượng một thái độ khăng khăng mù quáng, không chịu cải hối, thuộc thành phần bất trị, và hậu quả của thái độ u mê đó là nước mất nhà tan.

      LỜI BÀN
      Quẻ Phục biểu thị rõ tình trạng chính khí quay trở lại, nêu rõ sự phục hưng của chính đạo là quy luật tự nhiên không gì ngăn cản được. Lời quẻ ca ngời Khí dương cương mới hồi phục, thông suốt không trở ngại, nhanh chóng có lợi cho muôn vật và sức sống tái phát của sự vật, chứng tỏ ‘Phục’ tất nhiên dẫn đến ‘hanh’.
      Sáu hào trong quẻ, thì hào Sơ là gốc của sự hồi phục, là biểu tượng cho đức ‘nhân’ và ‘thiện’. Tấm lòng của trời đất sinh sôi nuôi dưỡng vạn vật mà Thoán truyện nói, chính là ở hào dương Sơ cửu này. Do đó trong năm hào âm, hào nào tương đắc với Sơ dương thì đều được tốt lành ‘phục thiện’. Hào Nhị gần gũi hào Sơ, được gọi bằng tên đẹp ‘hạ nhân’ (đức nhân ở dưới). Hào Tứ ứng với Sơ, được khen là ‘tòng đạo’. Ba hào âm còn lại, với hào Sơ chưa từng tương đắc, nhưng hào Tam ở ngôi vị dương, có thể cố gắng phục thiện mà được vô cữu. Hào Ngũ cao cư tôn vị, đôn hậu phục thiện nên được vô hối. Chỉ có hào Thượng là đi ngược lại với hào Sơ dương, mê muội không biết ‘Phục’, cuối cùng gặp tai hung.
      Qua đó, thấy được quẻ Phục, với sự giúp đỡ của dương cương, là nói về sự ‘mỹ thiện’, ý nghĩa tượng trưng của nói coi việc ‘phục thiên xu nhân’ (trở lại đường thiện, đi theo đức nhân) là mục đích. Chu dịch thiển thuật – Trần Mộng Lôi nói: “Sự bắt đầu lay động của một hào dương trong trời đất, cũng như sự manh nha ý niệm thiện của con người, là điều thánh nhân coi trọng nhất”. Đây chính là nghĩa của quẻ Phục.
      Hệ từ hạ truyện dẫn lời Khổng Tử khen Nhan Hồi nói: “Chưa từng không biết sự bất thiện, biết rồi chưa từng phạm lại”. Khuất Nguyên – Ly tao nói: “Hồi trẫm xa dĩ phục lộ hề, cập hành mê chi vị viễn” (Quay đầu xe trở lại đường cũ chừ, kịp khi chưa đi xa trên lối mê). Hai lời nói của Khổng Tử và Khuất Nguyên đều thể hiện cụ thể mỹ đức ‘phục thiện’ của quẻ Phục đã nói tới trong Dịch.

  
     
     

Khôn - Văn ngôn truyện

     
      Văn ngôn viết: Khôn chí nhu nhi động dã cương, chi tĩnh nhi đức phương. Hậu đắc chủ nhi hữu thường, phàm vạn vật nhi hóa quang. Khôn đạo kỳ thuận hồ ! Thừa thiên nhi thời hành.
      Dịch: Văn ngôn nói: Đất rất nhu thuận nhưng khi biến động thì tỏ ra cứng mạnh, rất yên tĩnh nhưng phẩm đức mềm, đẹp tràn lan khắp bốn phương. Đi theo sau người thì có người làm chủ, do đó giữ được thuận đức lâu dài, bao chứa tất cả, rộng chở muôn vật mà rọi tỏa muôn ngàn hào quang. Quy luật mà đất thể hiện thật là nhu thuận biết bao ! Nó bẩm thừa ý chí của trời để thuận theo bốn mùa mà vận hành cho thích đáng.

      Tiết 1: Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương. Thuần thí kỳ quân, tử khí kỳ phụ, phi nhất chiêu nhất tịch chi cố, kỳ sở do lai giả tiệm hĩ ! Do biện chi bất tảo biện dã. Dịch viết: Lý sương kiên băng chí, cái ngôn thuận dã.
      Dịch: Nhà nào tích chứa điều thiện thì tất có thừa phúc. Nhà nào tích chứa điều ác thì tất có thừa tai vạ. Việc bề tồi giết Vua, con giết Cha, nguyên do không phải một sớm một chiều, mà đã có manh như từ lâu ! Là do Vua và Cha không biết nhận ra chân tướng từ sớm vậy. Dịch nói: Dẫm lên sương mỏng là sẽ đón đợi băng dày, đại để ví với sự phát triển của các sự vât âm ác bao giờ cũng theo một chiều hướng nhất định.

      Tiết 2: Trực kỳ chính dã, phương kỳ nghĩa dã. Quân tử kính dĩ trực nội, nghĩa dĩ phương ngoại. Kính nghĩa lập nhi đức bất cô. Trực phương đại, bất tập vô bất lợi, tắc bất nghi kỳ sở hành dã.
      Dịch: Trực nói lên phẩm chất thuần chính, phương nói lên hành vi thích nghi. Người quân tử cung kính không cẩu thả do đó thúc đẩy sự chính thực của nội tâm, hành vi thích hợp do đó thúc đẩy ngoại vật đoan phương. Nếu cung kính không cẩu thả, hành vi thích hợp thì có thể khiến đức đẹp lan rộng mà không cô lập. Ngay thẳng vuông vức, to lớn thì dù không học cũng vị tất không được lợi, nói lên đức đẹp đầy khắp, mọi hành vi đều không phải ngờ sợ.

      Tiết 3: Âm tuy hữu mỹ, hàm chi dĩ tòng vương sự, phất cảm thành dã. Địa đạo dã, thê đạo dã, thần đạo dã. Địa đạo vô thành nhi đại hữu chung dã.
      Dịch: Âm mềm là kẻ dưới, mặc dầu có đức đẹp chỉ nên chứa giữ không để lộ mà nên lấy nó để giúp dập cho sự nghiệp của đấng quân vương, không dám nhận sự thành công là do của mình. Đó là đạo lý thuận trời, đạo lý theo chồng, đạo lý tôi trung với vua. Đạo lý thuận trời được thể hiện ở chỗ thành công không nhận là do ở mình, mà còn phải giúp dập cho trời, phụng sự đến cùng.

      Tiết 4: Thiên địa biến hóa thảo mộc phồn; thiên địa bế, hiền nhân ẩn. Dịch viết : Quát nang vô cữu vô dự. Cái ngôn cẩn dã.
      Dịch: Trời đất xoay vần biến đổi cây cỏ xum xê tươi tốt; trời đất bế tắc hôn ám, người hiền mai danh ẩn tích. Dịch nói: Thắt chặt miệng túi, tránh được cữu hại mà không cần được khen. Đại để ví với lẽ cần cẩn thận trong xử thế.

      Tiết 5: Quân tử hoàng trung thông lý, chính vị thế, mỹ tại kỳ trung, nhi xướng ư tứ chi, phát ư sự nghiệp: mỹ chi chí dã !
      Dịch: Chất đẹp của người quân tử sánh được với sự trung hòa và thông đạt văn lý của sắc vàng, nó lại được ở ngôi vị chính đáng, tài đức tồn nén trong tâm, lan tỏa khắp tứ chi, phát huy vào sự nghiệp: Đó là chất đẹp của sự tốt đẹp vậy !

      Tiết 6: Âm nghi ư dương tất chiến. Vi kỳ hiềm ư vô dương dã, cố xưng long yên; do vị ly kỳ loại dã, cố xưng huyết yên. Phu huyền hoàng giả, thiên địa chi tạp dã: Thiên huyền nhi địa hoàng.
      Dịch: Khí âm ngưng tình ở khí dương nên tất sẽ giao hợp với nhau. Người làm Dịch sợ người đọc nghi quẻ Khôn không có hào Dương, cho nên trong lời hào gọi rồng để đại diện cho dương, lại vì âm không hề rời dương trong sự phối ngẫu, nên trong lời hào dùng chữ ‘máu’ để chỉ hai khí âm dương giao hợp. Thế là máu chảy ra đen vàng lẫn lộn, đây là nói máu của trời đất, âm dương hòa lẫn nhau, máu trời mầu đen, máu đất mầu vàng.

Càn - Văn ngôn truyện - Chương 2

     
        Tiết 1: Tiềm long vật dụng, hạ dã; hiện long tại điền, thời xá dã; hoặc dược tại uyên, tự thí dã; phi long tại thiên, thượng trị dã; kháng long hữu hối, cùng chi tai dã; Càn nguyên dụng cửu, thiên hạ trị dã.
      Dịch: Rồng lớn ẩn mìn dưới nước tạm thời chưa thi thố được tài năng, nói lên địa vị thấp hèn. Rồng lớn đã xuất hiện trên cánh đồng, nói lên thời thế bắt đầu mở ra triển vọng. Suốt ngày hăng hái tự cường, nói lên trong thực tiễn đã có thể làm lên sự nghiệp. Hoặc bay vượt lên trước hoặc lui nấp dưới vực, nói lên đang tự đánh giá được mình. Rồng lớn bay cao trên trời, nói lên đã hình thành được một cục diện chính trị tốt nhất. Rồng lớn bay cao đến cùng cực cuối cùng sẽ có sự hối hận, nói lên tai nạn do sự cùng cực đem đến. Trời có đức nguyên thủy mà dùng số chín, nói lên thiên hạ đại trị là thế tất nhiên.

      Tiết 2: Tiềm long vật dụng, dương khí tiềm tàng; Hiện long tại điền, thiên hạ văn minh. Chung nhật càn càn, dữ thời giai hành. Hoặc dược tại uyên, Càn đạo nãi cách. Phi long tại thiên, nãi vi hồ thiên đức. Kháng long hữu hối, dữ thời giai cực. Càn nguyên dụng cửu, nãi kiên thiên tắc.
      Dịch: Rồng lớn ẩn mình dưới nước tạm thời chưa thi thố được tài năng, nói lên dương khí tiềm tàng chưa xuất hiện. Rồng lớn đã xuất hiện trên cánh đồng, nói lên thiên hạ tưng bừng xán lạn. Suốt ngày hăng hái tự cường, nói lên ý tranh thủ thời gian tiến lên trước. Hoặc bay vượt lên trước hoặc lui nấp dưới vực, nói lên đạo trời chuyển hóa, xuất hiện sự biến cách. Rồng lớn bay cao trên trời, nói lên khí dương vượng thịnh bốc lên tận ngôi trời có đầy đủ đức đẹp của trời. Rồng lớn bay cao đến cùng cực cuối cùng sẽ có sự hối hận, nói lên ý đã ở vào thời vận cùng cực cũng phải cùng cực. Trời có đức nguyên thủy mà dùng số chín, đó là thể hiện phép tắc của thiên nhiên.

     Tiết 3: Càn nguyên giả, thủy nhi hanh giả dã. Lợi trinh giả, tính tình dã. Càn thủy năng dĩ mỹ lợi lợi thiên hạ, bất ngôn sở lợi đại hĩ tai. Đại tai Càn hồ ! Cương kiên trung chính, thuần túy tinh dã. Lục hào phát huy, bàng thông tình dã. Thời thăng lục long, dĩ ngự thiên dã. Vân hành vũ thi, thiên hạ bình dã.
      Dịch: Quẻ Càn tượng trưng cho trời nguyên thủy, nói lên đức đẹp của trời là ở chỗ khởi đầu sáng tạo ra muôn vật và khiến cho chúng hanh thông. Hài hòa có lợi trinh chính chắc bền, là bản tính và nội tình mà trời hàm chứa trong nó. Trời vừa bắt đầu là đã có thể đưa lợi ích tốt đẹp làm lợi cho thiên hạ và cũng không nói lợi ích và ơn huệ đó là do mình ban, đó là lợi ích và ơn huệ vô cùng lớn ! Trời vĩ đại thay ! Cứng mạnh chắc khỏe, ở ngôi giữa, giữ điều chính, thể chất không tạp, thuần túy đến mức tinh. Sự vận động biến hóa của sáu hào khiến quẻ Càn đã phát triển tình lý đến mức thấm sâu vào muôn vật; cũng như thuận theo thời tiết cưỡi sáu rồng, thúc đảy chúng đi nhanh mà giá ngự thiên nhiên. Mây bay mưa đổ, đem thái bình đến cho thiên hạ.

      Tiết 4: Quân tử dĩ thành đức vi hành, nhật khả kiến chi hành dã. Tiềm chi vi ngôn dã, ẩn nhi vị kiến, hành nhi vị thành, thị dĩ quân tử phất dụng dã.
      Dịch: Người quân tử lấy sự thành tựu trong đạo đức làm mục đích của hành động, đó là hành vi mà mỗi ngày đều có thể bộc lộ ra. Chữ tiềm mà Lời hào Sơ nói nghĩa là còn ẩn náu mà chưa lộ diện, hành động còn chưa tỏ rõ. Cho nên người quân tử tạm thời chưa thi thố tài năng.

      Tiết 5: Quân tử học dĩ tụ chi, vấn dĩ biện chi, khoan dĩ cư chi, nhân dĩ hành chi. Dịch viết: hiện long tại điền lợi hiện đại nhân, quân đức dã.
      Dịch: Bậc quân tử dựa vào việc để tích lũy tri thức, dựa vào việc hỏi để biện biệt, quyết đoán mọi điều nghi nan, lòng dạ rộng rãi để được ngôi vị thích đáng, trong lòng tồn giữ điều nhân ái, từ đó thể hiện ra hành vi. Dịch nói: Rồng lớn đã xuất hiện ở cánh đồng lợi về sự xuất hiên đại nhân, bậc đại nhân như thế là có đầy đủ phẩm đức của vị quốc quân.

     Tiết 6: Cửu tam trùng cương nhi bất trung, thượng bất tại thiên, hạ bất tại điền, cố càn càn nhân kỳ thời nhi thích, tuy nguy vô cữu hĩ.
      Dịch: Hào Cửu tam là do nhiều tầng dương cứng chồng lên mà thành, không được ở chính giữa, trên không với tới trời cao, dưới không chạm tới mặt đất, cho nên phải không ngừng hăng hái tự cường, luôn phải giữ cảnh giác, được như thế thì tuy nguy hiểm mà không gặp phải cữu hại.

      Tiết 7: Cửu tứ trùng cương nhi bất trung, thượng bất tại thiên, hạ bất tại điền, trung bất tại nhân, cố hoặc chi. Hoặc chi giả, nghi chi dã, cố vô cữu.
      Dịch: Hào Cửu tứ là do nhiều lần dương cứng chồng lên mà thành, không được ở chính giữa, ngôi vị không chính trung; trên không với tới trời, dưới không chạm mặt đất, giữa không ở cảnh người, cho nên nhấn mạnh chữ 'hoặc'. Ý nghĩa của sự nhấn mạnh chữ 'hoặc' là muốn nói lên cần phải có sự nghi hoặc mà suy xét nhiều mặt, như vậy thì không thể gặp điều cữu hại.

     Tiết 8: Phu đại nhân giả, dữ thiên địa hợp kỳ đức, dữ nhật nguyệt hợp kỳ minh, dữ tứ thời hợp kỳ tự, dữ quỷ thần hợp kỳ cát hung. Tiên thiên nhi thiên phất vi, hậu thiên nhi phụng thiên thời. Thiên thả phất vi, nhi huống vu nhân hồ ? huống vu quỷ thần hồ ?
     Dịch: Bậc đại nhân mà lời hào Ngũ nói có đạo đức giống như trời đất che chở cho muôn vật. Sự sáng suốt như thần thánh của ông chiếu khắp mặt đất như mặt trời mặt trăng. Sự cầm quyền trị nước của ông rành rẽ thứ tự như bốn mùa. Sự thi thố về mặt cát hung của ông vi diệu khó lường như quỷ thần. Ông đi trước trời mà trời đồng tình, ông đi sau trời mà vẫn thuận với quy luật thiên nhiên. Trời còn không trái với ông huống hồ là người ? Huống hồ là quỷ thần ?

      Tiết 9: Kháng chi vi ngôn dã, tri tiến nhi bất tri thoái, tri tồn nhi bất tri vong, tri đắc nhi bất tri táng. Kỳ duy thánh nhân hồ ! Tri tiến thoái tồn vong, nhi bất thất kỳ chính giả, kỳ duy thánh nhân hồ !
      Dịch: Lời hào Thượng nói về ý nghĩa của chữ 'kháng', đó là nói về một số người chỉ biết tiến thủ mà không biết kịp thời thoái lui, chỉ biết sự sinh tồn mà không biết rằng cuối cùng sẽ đến lúc suy vong, chỉ biết có thu lợi mà không biết rằng có được tất có mất. Nói chung chỉ có bậc thánh nhân mới biết rõ những điều này mà thôi ! Hiểu sâu sắc về các lẽ tiến thoái, sinh tồn, diệt vong, hành động theo đường lối chính xác, không thiên lệch, nhìn chung chỉ có bậc thánh nhân mà thôi !