Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Địa kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Gần 800.000 người chết vì động đất trong thập niên qua

Trận động đất ngoài khơi Ấn Độ Dương ngày 26/12/2004 đã làm 227 nghìn người chết. Theo một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí khoa học Lancet, trong thập kỷ vừa qua, tính đến hết năm 2010, các trận động đất trên thế giới đã trực tiếp, hoặc gián tiếp giết chết 780 nghìn người.


Ngoài ra, nghiên cứu còn nhấn mạnh là những cơn địa chấn trong suốt những năm từ 2001 đến 2010 đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hơn 2 tỷ người trên hành tinh. Trận thiên tai thảm khốc nhất được ghi nhận là vụ động đất tại Haiti hôm 12/01/2010, với cường độ 7 độ Richter nó đã giết chết 316 nghìn nạn nhân. Trong khi đó, trận động đất có cường độ 9,1 độ Richter nổ ra trên Ấn Độ Dượng gây ra sóng thần kinh hoàng hồi tháng 12/2004 đã làm 227 nghìn người chết.

Đứng thứ ba trong quy mô hủy diệt là trận động đất tại tứ Xuyên, Trung Quốc, xảy ra hôm 12/5/2008. Cơn địa chấn này đã làm 87.500 người chết.

Bên cạnh những con số thống kê rùng rợn như trên, nghiên cứu được tạp chí Lancet công bố còn nhằm mục đích đánh động ý thức của các quan chức chính trị và các tổ chức cứu trợ một điều rằng, động đất là một thiên tai giờ đây phải được coi là ưu tiên hàng đầu trong nỗ lực bảo vệ cuộc sống và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu cũng muốn cảnh báo cho giới y học về những bệnh lý mà họ sẽ phải xử lý trong các trường hợp thiên tai này.

Theo các nghiên cứu, trong các trận động đất, có khoảng 1/3 dân cư trong khu vực bị nạn thiệt mạng. Số nạn nhân tử vong do động đất thường gia tăng thành từng đợt liên tục kể từ khi nổ ra. Trước tiên là những người bị chết ngay khi nhà cửa bị đổ sập, vài giờ sau đó đến những người bị thương tử nạn. Đợt tử nạn thứ ba tiếp tục diễn ra sau khoảng vài ngày hoặc vài tuần sau đó.

Với những người sống sót thường thì các cơ quan nội tạng như gan, thận hay cột sống đều có vấn đề. Nghiên cứu nói trên cũng chỉ cho thấy, trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương, chiếm từ 25% đến 53% các bệnh nhân sau động đất.

Ngoài các chiến dịch khẩn cấp tìm kiếm cứu người sống sót, công tác cứu hộ còn phải đối phó với tình trạng bệnh dịch tràn lan ở những khu tập trung đông dân sau động đất, do các xác người chết bị vùi trong đống đổ nát gây ra.

Về lâu về dài, động đất còn gây tác động không nhỏ đến sức khỏe tâm thần cộng đồng. Đó là tình trạng suy sụp tinh thần ở những nạn nhân sống sót.

Cùng với việc gia tăng dân số thế giới và phát triển đô thị trong các vùng có nguy cơ, những nguy hiểm do động đất gây ra còn lớn hơn nhiều trong những năm tới. Đó là cảnh báo của các tác giả nghiên cứu nói trên. Hiện nay các thành phố nằm trong vùng có nguy cơ xảy ra động đất cao thì lại thường là các đô thị siêu lớn tập trung đông dân như Tokyo (32 triệu dân), Mêhico City (15 triệu ), Los Angeles (15 triệu), Istambul ( 9 triệu).


http://www2.vietinfo.eu/tu-lieu/gan-800000-nguoi-chet-vi-dong-d%E1%BA%A5t-trong-thap-nien-qua.html

Thanh Nang Kinh

青囊经
上卷
经曰: 天尊地卑,阳奇阴偶。一共六宗,二七同道,三八为朋,四九为友,五十同途。阖辟奇偶,五兆生成,流行终始。八体弘布,子母分施。天地定位,山泽通气,雷风相薄,水火不相射。中五立极,临制四方,背一面九,三七居旁,二八四六,纵横纪纲。阳以相阴,阴以含阳。阳生于阴,柔生于刚。阴德弘济,阳德顺昌。是故阳本阴,阴育阳,天依形,地附气。此之谓化始。
中卷
经曰:天有五星,地有五行。天分星宿,地列山川。气行于地,形丽于天。因形察气,以立人纪。紫微天极,太乙之御,君临四正,南面而治。天市春宫,少微西掖。太微南垣,旁照四极。四七为经,五德为纬,运干坤舆,垂光乾纪。七政枢机,流通终始。地德上载,天光下临。阴用阳朝,阳用阴应。阴阳相见,福禄永贞。阴阳相乘,祸咎踵门。天之所临,地之所盛。形止气畜,万物化生。气感而应,鬼福及人。是故天有象,地有形,上下相须而成一体。此之谓化机。
下卷
经曰:无极而太极也。理寓于气,气囿于形。日月星宿,刚气上腾。山川草木,柔气下凝。资阳以昌,用阴以成。阳德有象,阴德有位。地有四势,气从八方。外气行形,内气止生。乘风则散,界水则止。是故顺五兆,用八卦,排六甲,布八门,推五运,定六气,明地德,立人道,因变化,原终始。此之谓化成。


青囊經
此經原本黃石公授赤松子祕鑰,為地理理法之祖。類分化始、化機、化成三卷。理顯法微,非淺學所能悟入。其辨正所集曾公序、楊公奧語、天玉、寶照四篇,皆發明此經精義。前蔣公補傳,理數全剖,而於地理作法及三卷節目均隱而不露,以致後人不得其門而入,邪說紛紛,由此起也。今特將地理作法,及三卷節目剖明切指,更增讀法,庶學者不為邪說所誘耳。
讀青囊經,宜先講易,研考河圖洛書一奇一耦,對待生成合化之數;太極兩儀四象;先後天八卦錯綜抽換中爻象義之理法,方有下手處。
讀青囊經,先觀三卷大旨,上卷化始,為天地開闢之道;中卷化機,為天地動靜之道;下卷化成,為天地生成之道。然後知地理理氣作用根源。
讀青囊經,又宜先訪明師得受地理真法,而後知三卷節目。上卷首節,總起元空大卦,雌雄配偶之道;次節指明元空之法;三節指明雌雄之法。中卷首節,總起地理之道,原三才一貫,足明元空雌雄,並起下挨星本原;次節指明挨星之法,三節總起元空、雌雄、挨星合用之妙;四節總論元空、雌雄、挨星靈應之理。下卷首節,總起元空、雌雄、挨星合用,隨處可以立極安宅。正楊公謂隨手拈來皆是妙用之義也。二節指明城門一法;三節指明太歲一法及扶龍氣一法。而地理理氣之道備矣。
讀青囊經,知得三卷節目,得受元空、雌雄、挨星、城門、太歲、扶補六箇真法,而後蔣公所集,青囊序、青囊奧語、天玉、寶照四篇之祕隱語,有豁然貫通者,若能融會,不特為地理之精,尤得性理之道矣。
讀青囊經,能得元空、雌雄、挨星、城門、太歲、扶補之道,方知古聖人窮理立法,層次分明,原始要終,作一宅有不可缺一者。
讀青囊經,又宜參看性理諸書,以究理之精蘊,庶理精,則法密;法密,則作用無差誤。而亦可得身心性命之學。
上卷經曰
天尊地卑,陽奇陰偶。一六共宗;二七同道;三八為朋;四九為友;五十同途。五兆生成,流行終始。
天地之始,始於無形。無形何測?有氣在焉。其氣何測?有理在焉。其理何測?有數在焉。其數何測?有象在焉。其象何測?有法在焉。大聖人作易,以法天地之道,以明陰陽之理。馬圖龜書皆以昭象數之跡,故理明而數立,數立而象懸,象懸而法齊,法齊而理彰,理彰而萬物得有所定。是以陰陽萬物之準,皆由一理一法處之,豈地理一道可能外。且地理道出三才理原一貫,法無二門,笑容立說紛紛,彼此爭詡,故此倡明理法之源,以開萬世之昧。天地者,陰陽也。尊卑者,陰陽之序也。陰陽者,理也。奇耦者,數也。陰陽之理有對待,藉奇耦參伍之數:天一、地二、天三、地四、天五、地六、天七、地八、天九、地十。似兄弟相得之象而對待之。陰陽之理有交合,藉奇耦生成之數:一六共宗、二七同道、三八為朋、四九為友、五十同途。似夫婦配偶之象而交合之。然對待之理,其數在參伍,則有闔闢之體焉;交合之理,其數在生成,則有五行之兆焉。自闔闢之體立。則奇耦之數均,尊卑之序不混,天地之道大彰;自五行之兆成,則生成之數具,天地之機自萌,陰陽之氣相感。序不混則倫常不乖;道大彰則綱紀永賴;機自萌則造化纍出;氣相感則終始流行。倫常不乖,則尊卑之序,萬世昭列。綱紀永賴,則天地之道,終古復週。造化纍出,則天地之機,無有窮止。終始流行,則陰陽之氣,無有休息。地理之源,演經立義,而元空、雌雄之理法在所始也。
八體宏佈,子母分施。天地定位,山澤通氣,雷風相薄,水火不相射。中五立極,臨制四方,背一面九,三七居旁,二八四六,縱橫紀綱。
八體,即天地、山澤、雷風、水火八卦分配之體,宏佈八方之位。子母,亦天地、山澤、雷風、水火之序,分施於三路之間。此為先天卦位,本於河圖之數而作也,而一九、三七、二八、四六,縱橫十五,綱紀不雜,為洛書之數。聖人以一坎、二坤、三震、四巽、五中、六乾、七兌、八艮、九離隸之。此為後天卦位,本於洛書之數而定也。中五者,河洛皆以中五居中而立極也。極者,極也。陰陽八卦五行之根也。自中五立極,而四方方可臨制,四方臨制,方有四維界焉,八方立焉,八體佈焉,子母施焉,陰陽八卦之交感會焉,生成五行之化機萌焉。而元空之理以此為根源。所謂元空者,至元、至妙、至空、至極,大而宇宙之間生成佈滿;小而微忽之地造化無窮,合大學中庸之道,一理相貫。當其無形之氣,其氣渾然已成;當其有形之體,其體秩然有象。氣無一息不流行,體無一息不交媾,有天地尊卑陰陽闔闢之象,有剛柔老少子母次序之列,而其法,自天地定位之後,陰陽迭更,奇耦錯綜,二五妙合,抽出日月以歸本位。然後風雷、水火、山澤升降往來於兩大之間,其中中五立極,臨制四方,洛書一九、三七、二八、四六、縱橫十五之位,形氣變化,無有極極,真元空也。學者會此真寶,始知其味無窮也。
陽以相陰,陰以含陽。陽生於陰,柔生於剛。陰德宏濟,陽德順昌。是故陽本陰,陰育陽。天依形,地附氣。此謂之化始。
氣之行於天者,陰陽也。質之具於地者,剛柔也。陰陽剛柔一也,皆在一氣一質言之。陰陽乃無形之氣,藉剛柔之質而成體。剛柔乃有形之質,藉陰陽之氣而成性。陽剛陰柔,天地之大經也。蓋天之用在陰陽,陽貴而陰賤,陽之貴不在陽,而在陰,陰中之陽乃真陽也。故陽在陰之中,陰為之含,陽為之相,非遽論陽定為陰相。所云陽以相陰者,原陰中有真陽之相;陰以含陽者,原陽在陰中,即陽自陰始,陽自陰生,乃太極靜而動,動而生陽之謂。至陽動,則陽司化育之權,陽之所司,陰以助之,故陽貴而陰賤也。而地之用在剛柔,天之陽貴陰賤,地必貴剛而賤柔。剛之貴亦不在剛,而在柔。柔中有剛乃得濟也。然剛在柔之中,必剛生於柔,而反言柔生於剛者,原謂無形之氣,至剛至陽,故能發育萬物。有形之質,至柔至陰,故能孕載萬物。無形之氣,雖至陽至剛,卻無形可見,雖剛亦柔矣。有形之質,雖至陰至柔,卻有形可見,雖柔亦剛矣。是以無形之柔氣,常依有形之剛質;有形之剛質,常附無形之柔氣。斯化育生機,終始勿極。正蔣公所謂:質生氣,氣還生質。故曰柔生於剛也。柔生於剛,則剛必資乎柔,斯剛柔相濟,地之質方具,天之氣方行。而陰陽剛柔之德合矣。故陰之德,柔順端斂,能助乎陽,宏濟造化。陽之德,剛建中正,能親乎陰,順昌生育。由是天地之道立矣。是故,天地之道,陽常本於陰,即天之氣,常依地之形,而天非廓然之天也。陰常育乎陽,即地之形常附天之氣,而地非塊然之地也。此所以為化始之道也。而雌雄之源,交姤之理,在所取象而立法焉。所謂雌雄之義者,即對待交合之情,陽剛陰柔之顯象也。雌無雄不配,雄無雌不偶。所言雌雄之法旨者,以剛柔成象之質,測陰陽交姤之氣。以陰陽交姤之氣,求剛柔成象之質。明陰陽剛柔交姤之道,而雌雄之旨得矣。想天之用在陰陽,而陰自為陰,陽自為陽,陰不可混陽,而自含乎陽。陽不可混陰,而自相乎陰。地之用在剛柔,而剛自為剛,柔自為柔,剛不可混柔,而自得乎柔。柔不可混剛,而自生乎剛。氣之陽德,必得陰以宏濟。氣之陰德,必得陽以順昌。是故,觀陽則不必更觀其陰,而知必有陰以耦之。觀陰則不必更觀其陽,而知必有陽以配之。天之陰氣,必地之柔質以應之。天之陽氣,必地之剛質以應之,而天始有依。地之剛質,必天之陽氣以應之,地之柔質,必天之陰氣以應之,而地始可附。此皆釋雌雄之義也。上所謂尊卑、奇耦發雌雄之象;八卦、子母發雌雄之序。雌雄有一定之所,無一定之隅,須識元空大卦之源,陰陽剛柔之道,而後可得矣。此以上皆論天地無形之氣,為化始之氣,因氣窮理,因理窮數,因數窮象,因象立法,因法彰理。所以生天地者,此理此法。生萬物者,亦此理此法。理通一貫,法道三才,豈容地理家立說紛紛,彼此爭詡者耶。
中卷經曰
天有五星,地有五行。天分星宿,地列山川。氣行於地,形麗於天。因形察氣,以立人紀。
  天地之機,機伏於形,有形寓無形之氣,成象成形,斯機動焉。大聖人畫卦作易,仰觀俯察,以立三才之道。推源立天之道,曰陰與陽;立地之道,曰柔與剛;立人之道,曰仁與義。陰陽成象,剛柔成質,仁義成德,雖道別三才,其理一貫。蓋陰陽之象,成於天者:天有五氣,凝精於上者,曰星。剛柔之質,成於地者:地有五氣,流結於下者,曰行。仁義之德,成於人者:人有五性,混合於中者,曰常。五星之精,在天分光列象,而星宿由是周羅。五行之質,在地成形列體,而山川由是佈滿。仁義之德,在人植紀整綱而秀靈,由是鍾毓。是故,天有是象,而地即有是形。地有是形,而天即有是象。人稟天地形氣之所生,而人即有是德,有是德,方與天地形氣無虧。然地非列宿之象,而形常麗乎列宿。天亦非山川之形,而氣常行乎山川。人非星宿山川之體,而德常配乎天地。天氣地形,兩相交感,而人寓乎形氣交感之間,則鐘靈毓秀以無窮矣。聖人因形之所呈,以察氣之所稟,察氣之所稟,以因形之所呈。即有是形,察是氣;有是氣,因是形。形也,氣也,合而一者也。若有是氣,而無是形,氣亦死氣。有是形,而無是氣,形亦死形。形氣感通,機萌無已,而人紀方立,地理之理,即人紀一端。人生受天之氣,依地之形。氣有陰陽,則形有雌雄。氣有往來,則形有順逆。氣有盛衰,則形有生死。氣有闔闢,則形有尊卑。氣有交姤,則形有配合。氣有促舒,則形有壽殀。氣有清濁,則形有善惡。氣有厚薄,則形有大小。此理既明,而地理之道得矣。
紫微天極,太乙之御,君臨四正,南面而治。天市東宮,少微西掖,太微南垣,旁照四極。四七為經,五德為緯,運斡坤輿,垂光乾紀。七政樞機,流通終始。
  紫微垣居北,天之極也,太乙之御也,君之象也,南面而治天下。孔子所謂居其所,而眾星拱之。臨四正者,東有天市,西有少微,南有太微,帶本垣而為四正,以鎮四極。四極有四方,四方有蒼龍、白虎、朱鳥、元武四象,各帶七宿分野。而七宿,即七政樞機。分佈四方,每方各具一七政,總為二十八宿,以定天地之經。星宿之緯,雖佈四方,而纏渾天三百六十度,已備八卦二十四山之象矣。自經星立極,而日月五星往來如緯,以成元象。正蔣公謂一經一緯,真陰陽之交道也。於是七政流行,運則旋斡坤輿。地之體結束而安其中,光則大垂乾紀。天之體環周而固於外,此七政樞機,元氣流通,包羅六合,原無始終也。而挨星之法,由是而起。所謂挨星者,天之星宿下臨於地,地之山川上應於天,及天分星宿,地列山川,氣形於地,形麗於天之道也。然星宿之列象,其氣無歸,得北極之樞以統之,使氣一團凝結不散。山川之成形,其質無定,得九疇之範以率之,使質一團凝聚不離。氣有所歸,質有所定,質定則氣歸,氣歸則質定,氣質混合不散不離,真天地交泰,陰陽合德者也。想北極與九疇相配,乃天地陰陽自然之生成,北極七曜,戴左右而增為九,混凝於氣者,則為五星。九疇九宮虛中五而含為十,混凝於氣者,則合為五行。五星與五行合濟以成德緯,行四七經度之間,其中日月往來,水火升降,光乾運坤,一氣上下相接無終始,亦無休息,八荒遍及,無微不至,真挨星也,學者味此,其妙不可勝言。
地德上載,天光下臨。陰用陽朝,陽用陰應。陰陽相見,福祿永貞;陰陽相乘,禍咎踵門。天之所臨,地之所盛。形止氣蓄,萬物化生。
  地有形之體也,天無形之氣也。有形者,氣之所成,而即以載氣。無形者,氣之所運,而即以寓體。是故,氣行於天,而載之者地。地附天,方以成德。體列於地,而臨之者天。天依地,方以垂光。然氣行於天,氣本陽也。體列於地,體本陰也。陰體宜用陽氣朝之,斯地得所,而天氣方歸。陽氣宜用陰體應之,斯天得所,而地體方列。天氣地形兩相交合,則為相見。相見則福祿永貞。天氣地形兩相反逆,則為相乘。相乘則禍咎踵門。且天之氣無往不臨,地之體無往不盛,必於地之形止,而氣方蓄。亦必於天之氣蓄,而形方止。形止氣蓄,天地自然之交會,非形止,而後氣蓄。亦非氣蓄,而後形止。蓋形,地之陰也。陰不孤陰,必見天之氣而始止;氣,天之陽也。陽不獨陽,必得地之形而始蓄,即陰陽相見之謂也。形止氣蓄,而後萬物生機,有不期然而見也。茍為孤陰獨陽,則形不止而氣不蓄。即天不交,而地不會,陰陽各自相乘,萬物焉有生理。所以禍福殊途,只間一髮可不慎歟!地理三才一貫之心法,其本卷所云挨星;上卷所云元空雌雄之理法妙用,皆在一形一氣,一止一蓄之中。而形止氣蓄四字,乃三卷綱領,妙諦莫盡,非能畢洩,學者宜重思之。
氣感而應,鬼福及人。是故,天有象,地有形,上下相須而成一體,此之謂化機。
  自形止氣蓄之後,天之氣與地之形合一,則所葬之骨,亦與天地之形氣合一。合一則有感,有感則有應,其應則死骨蔭而生人福。若天之氣與地之形不交,則所葬之骨,亦與天地之形氣不交。不交則有感,有感則有應,其應則死骨朽而生人禍。或謂禍福之感,乃死骨自生,不知死骨無靈,借山川之靈以為靈;山川無主,借死骨之主以為主。以無靈之死骨,葬有靈之山川,則無靈而化為有靈;以無主之山川,藏有主之死骨,則無主化為有主。山川有靈,無主不應,死骨有主,無靈不鍾。山川死骨合成一體,所以氣感而應,鬼福及人。然山川何靈,得天地陰陽之氣所感以為靈;死骨何主,得天地陰陽之形所結而為主。山川之靈,何以靈?其靈應禍福之機;死骨之主,何以主?其主載禍福之柄。山川之氣亦非有意生禍福,而禍福自有機而出焉。適與天地陰陽之氣,相遇於窅冥之中。夫有所流通焉,夫有所閉塞焉,遂使天地陰陽之氣,與骨為一,而禍福乃勃然感爾。亦如天地生萬物,天地陰陽之氣,非有意生萬物,而萬物自有機焉。適與天地陰陽之氣,相值於恍惚之間。夫有所綢繆焉,夫有所包孕焉,遂使天地陰陽之氣,與物為一。而萬物亦勃然感爾。地理化機之道,交有如是。是故,化機之道,原本天有象,列宿得天地之氣,而生於天,列宿與天為一體也;地有形,山川得地之體,而結於地,山川與地為一體也。天之象,地之形,上下相須,合成一體。於渺冥之間,形氣交融,有不求而生機畢露者。此謂之化機。
下卷經曰
無極而太極也。理寓於氣,氣囿於形。日月星宿,剛氣上騰。山川草木,柔氣下凝。資陽以昌,用陰以成。陽德有象,陰德有位。
  天地之成,在於一氣一形。氣則化始,形則化機,始機合化,其化成矣。然氣之化始,始於無極;形之化機,機於太極。化始而後化機,即無極而太極也。故此指出無極而太極,總結上卷、中卷,化始化機之道。蓋無極即太極也,太極即無極也,非太極之外復有無極,言太極則無極可知。所謂無極而太極者,無極乃太極渾然之性,本無有物,則無物不在其中,量包天地,無有極極。而太極乃無極所受之命,為一理之源,萬化之祖。大而天地陰陽,統一太極;小而天地萬物,各具一太極。有一太極,即有一無極在焉。太極之化無窮,太極之源本一。所以,理寓於氣,氣一極也;氣囿於形,形一極也;以至於天之日月星宿,剛氣上騰,剛一極也;地之山川草木,柔氣下凝,柔一極也;地之山川草木,資陽以昌,資一極也;天之日月星宿,用陰以成,用一極也。太極之象無盡,太極之位不一,當於陰陽有象有位之中立極,方以成德。德者,一也,萬殊同歸於一也。以是知始機合化,化成之道。非化機之外,復有化始一道。有一化機,即有一化始在焉。言化機,則化始可知。化始者,即化機之氣也,化機者,即化始之形也。形無氣不動,氣無形不成,言形,則氣即寓焉;言氣,則形即寓焉。形氣不離,則始機合一,其化化生生,莫可終止,所謂無極而太極也。地理通此一竅,則化始化機思過半矣。以上所云元空、雌雄、挨星合用之妙,盡在於此。以下之城門、太歲理法之源,亦在於斯。
地有四勢,氣從八方。外氣行形,內氣止生。乘風則散,界水則止。
  此承上太極而言。地無四勢,太極乘之為四勢;氣無八方,太極御之為八方。四勢乃河圖之形,八方乃洛書之氣,皆太極象位之主。一氣一形,極極無定,非元空、雌雄、挨星立法,莫能定也。然定者,四勢之外,各得陰陽配偶之形,八方之外,各得天地交會之氣,於是外氣行形,而更於四勢八方之內,形止氣生,方不為傳舍過客。所謂內氣止生者,乃四勢八方之形氣,皆招攝翕聚乎此。是一止,則無所不止,一生,則無所不生,真太極也。而止生之法,在於一風一水,風,氣也,屬陽;水,形也,屬陰。一陰一陽,一形一氣,宜得太極位置,方有界止,但風不可乘,乘風則散;水當宜界,界水則止。散則內氣不生,雖外有形氣,而莫能歸焉。止則內氣含蓄,縱外無形氣,亦可暫息焉。總宜得其位置之法。則止者自止,生者自生,即乘者不乘,界者可界,此城門一訣之源。即寶照所謂城門一訣最為良,識得五星城門訣,立宅安墳大吉昌也。所謂城門者,界止之地,如城而有門,可開可閤,開則形氣流通,閤則形氣止蓄,即乾坤閤闢之道。非俗以水口作城門,及入首作城門,明堂界合處作城門之謬說也。城門緊要地,不可不慎,有似邦國修築城牆,圍數萬生靈,止係一門衛之之義。古人立法取名,極為鄭重。城門一訣,在風水陰陽界合之間,陽公有父子雖親,不肯說之語。豈筆所能盡露。其旨學者須得明師授之,若不得此一訣,雖元空、雌雄、挨星合法、皆不能濬發靈機矣。
是故,順五兆、用八卦、排六甲、布八門、推五運、定六氣、明地德,立人道,原終始,此之謂化成。
  地理自城門之後,理稍定矣,而法尚未全。當審五星正變之形,立其體,以辨美惡,所謂順五兆也。審八方衰旺之氣,立其應,以識成敗遲速,所謂用八卦也。審六甲紀年之運,以卜災祥,所謂排六甲也。審八方開閤之氣,以知生死,所謂布八門也。此指明太歲一訣,即天玉所謂更看太歲是何神,立地見分明也。所謂太歲者,乃禍福來去年命之道,使法不明,即得元空、雌雄、挨星、城門,可知禍福,而速遲年命之應,則不能知。此法明,而地理之妙用全矣。又貴選日授時,以旺龍氣。而選授之法甚廣,求其旺者,莫如推五運、定六氣,五運即五紀盈虛之歲,六氣即六候代謝之令。能明此,而得天地正旺之氣,以蔭龍氣,其福未有不速者也。於是五法俱備,五德俱全,而又選授合法,則地德明,而乾坤毓秀,山嶽鍾靈,聖賢豪傑,相繼而出斯。人道賴以立,天地賴以昌,聖人開物成務,未有大於此者,此謂之化成。

CHU KỲ 6

23
HỎA LÔI
PHỆ HẠP
501
14
PHONG THỦY
HOÁN
528
33
TRẠCH THIÊN
QUẢI
471

42
THỦY PHONG
TỈNH
444


60
ĐỊA SƠN KHIÊM
390
5
THIÊN TRẠCH
555
51
LÔI HỎA
PHONG
417
32
SƠN ĐỊA
BÁC
474


1. Giáp Tý - Sơn Địa Bác, hào 1 (1~ 49)
- “Sơ Lục, bác sàng dĩ túc, miệt ; trinh hung.”
- “Sáu Đầu, làm sập giường trước tiên phải đẽo từ chân, chân giường tất sẽ gẫy gục ; giữ chính phòng hung.”
- Tượng “Bác sàng dĩ túc, dĩ miệt hạ dã.” – Làm sập giường trước hết phải đẽo từ chân, nói lên ý trước tiên cần làm ruỗng mọt phần nền móng phía dưới.

2. Ất Sửu - Trạch Thiên Quải, hào 4 (2 ~ 50)
- “Cửu Tứ, đôn vô phu, kỳ hành tư thư ; khiên dương hối vong, văn ngôn bất tín.”
- “Chín Bốn, mông mất da, đi lại chập chững khó tiến ; nếu dắt dê thật chắc chắn (khỏe mạnh giống như tôn quý dương cứng) thì sự hối hận sẽ mất, e rằng lời này nó không chắc đã nghe theo.”
- Tượng “Kỳ hành tư thư, vị bất đáng dã ; văn ngôn bất tín, thông bất minh dã.” – Đi lại chập chững khó tiến, là tượng Chín Bốn ngôi vị không thỏa đáng ; Nghe lời này mà không thể tin theo, nói lên Chín Bốn mặc dầu nghe thấy mà không thể xét rõ sự lý.

3. Bính Dần – Thiên Trạch Lý, hào 6
- “Thượng Cửu, thị lý khảo tường, kỳ tuyền nguyên cát.”
- “Chín Trên, nhìn lại quá trình “thận trọng trong đi lại”, soát xét mọi họa phúc được mất, quay mình xuống dưới ứng với âm mềm, hết sức tốt lành.”
- Tượng “Nguyên cát tại thượng, đại hữu khánh dã.” - Hết sức tốt lành, ở ngôi cao trên cùng, đây là tượng Chín Trên có phúc khánh lớn.

4. Đinh Mão - Địa Sơn Khiêm, hào 2
- “Lục Nhị, minh khiêm, trinh cát.”
- “Sáu Hai, tiếng tăm về đức khiêm lừng lẫy, giữ chính thì tốt lành.”
- Tượng “Minh khiêm trinh cát, trung tâm đắc dã.” - Tiếng tăm về đức Khiêm lững lẫy, là ý tượng Sáu Hai do trong lòng thuần chính nên có được danh tiếng.

5. Mậu Thìn – Lôi Hỏa Phong, hào 2
- “Lục Nhị, phong kỳ bộ, nhật trung kiến Đẩu, vãng đắc nghi tật ; hữu phu phát nhược, cát.”
- “Sáu Hai, dùng tấm gương lớn để che ánh sáng, như nói mặt Trời đang chính Ngọ mà mọc sao Bắc Đẩu, đi lên tất bị bệnh tật vì bị nghi ngờ ; nếu giữ được lòng thành tín thì tốt lành.”
- Tượng “Hữu phu phát nhược, tín dĩ phát chí dã.” – Ý tượng Sáu Hai muốn thông qua sự thành tín để mở ra chí hướng thịnh lớn, sáng rõ.

6. Kỷ Tị - Phong Thủy Hoán, hào 6
- “Thượng Cửu, hoán kỳ huyết khứ địch xuất, vô cữu.”
- “Chín Trên, lìa tan (cùng cực mà bốn phượng tụ hợp), bởi vậy xa được sự lo buồn, thoát được sự kinh sợ, không có gì cữu hại.”
- Tượng

7. Canh Ngọ - Thủy Phong Tỉnh, hào 4 - Sự thấm mạch nước không cùng.
- “Lục Tứ, tỉnh trụ, vô cữu.”
- “Sáu Bốn, giếng nước đang được xây lại, tất vô cữu hại.”
- Tượng “Tỉnh trụ vô cữu, tu tỉnh dã.” - Giếng nước đang được xây lại, là tượng Sáu Bốn chỉ có thể xửa giếng (không thể nóng vội mà nuôi người).

8. Tân Mùi - Hỏa Lôi Phệ hạp, hào 4
- “Cửu Tứ, phệ can tỉ, đắc kim thỉ ; lợi gian trinh, cát.”
- “Chín Bốn, gia hình không thuận lợi như cắn miếng thịt có xương khô, nhưng có khí phách cương trực như mũi tên đồng ; lợi về trong sự gian nan giữ được chính, tốt lành.”
- Tượng “Lợi gian trinh cát, vị quang dã.” – Trong gian nan giữ được chính bền thì có lợi, có thể được tốt lành, đây là tượng ý đạo trị ngục của Chín Bốn còn chưa phát huy được sáng lớn.

9. Nhâm Thân – Sơn Địa Bác, hào 5 (9 ~ 21)
- “Lục Ngũ, quán ngư dĩ cung nhân sủng, vô bất lợi.”
- “Sáu Năm, dắt bầy cung nữ như xâu một xâu cá lên hầu vua, không có gì là không lợi.”
- Tượng “Dĩ cung nhân sủng, chung vô vưu dã.” - Dắt bầy cung nữ lên hầu vua, là tượng Sáu Năm cuối cùng không có sai phạm.

10. Quý Dậu - Trạch Thiên Quải, hào 6 (10 ~ 22)
- “Thượng Lục, vô hào, chung hữu hung.”
- “Sáu Trên, không phải gào khóc, cuối cùng khó tránh sự hung hiểm.”
- Tượng “Vô hào chi hung, chung bất khả trường dã.” – Không cần phải gào khóc, khó tránh sự hung hiểm, là tượng Sáu Trên trong tình thế ở cao bên trên, cuối cùng không thể lâu dài.

11. Giáp Tuất – Sơn Địa Bác, hào 6 (11~59)
- “Thượng Cửu, thạc quả bất thực, quân tử đắc dư, tiểu nhân bác lư.”
- “Chín Trên, quả lớn chưa bị hái xuống ăn, người quân tử hái được nó thì sẽ có thể ruổi xe đi cứu đời, kẻ tiểu nhân hái được tất sẽ đi đến chỗ phá vạn nhà.”
- Tượng “Quân tử đắc dư, dân sở tải dã ; tiểu nhân bác lư, chung bất khả dụng dã.” - Người quân tử hái được, tượng ý trăm họ do vậy được bề trên che chở ; Kẻ tiểu nhân hái được, tượng ý kẻ tiểu nhân cuối cùng không thể tin dùng được.

12. Ất Hợi - Trạch Thiên Quải, hào 5
- “Cửu Ngũ, nghiễn lục quải quải, trung hàng vô cữu.”
- “Chín Năm, quả quyết trừ kẻ tiểu nhân, như đào tận gốc rau sam mềm ròn, ở đạo giữ đi đường chính thì tất không cữu hại.”
- Tượng “Trung hàng vô cữu, trung vị quang dã.” - Ở ngôi giữa đi đường chính, ý tượng nói lên đạo giữa chính của Chín Năm còn chưa sáng lớn.

13. Bính Tý – Thiên Trạch Lý, hào 5
- “Cửu Ngũ, quải lý, trinh lệ.”
- “Chín Năm, quả quyết, cứng rắn thận trọng trong đi lại, giữ chính phòng nguy hiểm.”
- Tượng “Quải lý trinh lệ, vị chính đáng dã.” - Quả quyết, cứng rắn, nói lên Chín Năm ở ngôi chính đáng.

14. Đinh Sửu - Địa Sơn Khiêm, hào 3
- “Cửu Tam, quân tử hữu chung, cát.”
- “Chín Ba, cần cù khiêm tốn, người quân tử giữ được đức khiêm đến cùng thì sẽ tốt lành.”
- Tượng “Lao khiêm quân tử, vạn dân phục dã.” - Người quân tử cần cù khiêm tốn, muôn dân đều phục tùng.

15. Mậu Dần – Lôi Hỏa Phong, hào 1
- “Sơ Cửu, ngộ kỳ phối chủ, tuy tuần vô cữu, vãng hữu thượng.”
- “Chín Đầu, gặp được người chủ nhà hợp với mình, mặc dù hai hào dương đức ngang nhau nhưng không bị cữu hại, đi lên tất được sùng thượng.”
- Tượng “Tuy tuần vô cửu, quá tuần tai dã.” – Dương đứng ngang nhau mà không bị hại, nói lên Chín Đầu và Chín Bốn nếu dương đức không ngang nhau, tất sẽ cạnh tranh nhau mà có tại hoạn.

16. Kỷ Mão – Phong Thủy Hoán, hào 1
- “Sơ Lục, dụng chửng mã tráng cát.”
- “Sáu Đầu, nhờ con ngựa tốt mạnh gắng cứu vớt thì được tốt lành.”
- Tượng “Sơ Lục chi cát, thuận dã.” - Sự tốt lành của Sáu Đầu, là do thuận với Chín Hai.

17. Canh Thìn - Thủy Phong Tỉnh, hào 3 (mộ Thủy)
- “Cửu Tam, tỉnh tiết bất thực, vi ngã tâm trắc ; khả dụng cấp, vương minh tịnh thụ kỳ cấp.”
- “Chín Ba, giếng nước được nạo vét sạch sẽ mà không được múc nấu ăn, khiến ta động lòng chắc ẩn, nên mau mau múc lấy nước giếng ăn này, được vị vua sáng suốt thì vua tôi sẽ chung hưởng phúc trạch.”
- Tượng “Tỉnh tiết bất thực, hành trắc dã ; cầu vương minh, thụ phúc dã.” - Nước giếng được nạo vét sạch mà không được dùng, nói lên hành vi của Chín Ba chưa được hiểu, thật khiến cho người động lòng ; hy vọng “nhà vua sáng suốt”, là để cho vua tôi cùng hưởng phúc trạch.

18. Tân Tị - Hỏa Lôi Phệ hạp – hào 5
- “Lục Ngũ, phệ can nhục, đắc hoàng kim ; trinh lệ, vô cữu.”
- “Sáu Năm, gia hình không thuận lợi, ví như cắn miếng thịt khô rắn, nhưng có đầy đủ khí phách cứng rắn, trung hòa giống như vàng ; giữ chính phòng nguy, có thể tránh được cữu hại”.
- Tượng “Trinh lệ vô cữu, đắc đáng dã.” - Giữ chính phòng nguy, ý nói hành vi Sáu Năm phù hợp với đạo trị ngục chính đáng.

19. Nhâm Ngọ - Sơn Địa Bác, hào 4 (19 ~ 31)
- “Lục Tứ, bác sàng dĩ phu, hung.”
- “Sáu Bốn, làm sập giường đã sập đến dát giường, có hung hiểm.”
- Tượng “Bác sàng dĩ phu, thiết cận tai dã.” - Giường sập đến dát giường, nói lên ý Sáu Bốn đã sát gần tai họa.

20. Quý Mùi - Trạch Thiên Quải, hào 1 (20 ~ 32)
- “Sơ Cửu, tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng vi cữu.”
- “Chín Đầu, mạnh ở ngón chân trước, mạo hiểm tiến lên phía trước tất không thể thủ thắng, ngược lại sẽ dẫn đến cữu hại.”
- Tượng “Bất thắng nhi vãng, cữu dã.” – Không thể thủ thắng mà vội tiến lên, là mời gọi sự cữu hại đến.

21. Giáp Thân – Sơn Địa Bác, hào 5 (21 ~ 9)
- “Lục Ngũ, quán ngư dĩ cung nhân sủng, vô bất lợi.”
- “Sáu Năm, dắt bầy cung nữ như xâu một xâu cá lên hầu vua, không có gì là không lợi.”
- Tượng “Dĩ cung nhân sủng, chung vô vưu dã.” - Dắt bầy cung nữ lên hầu vua, là tượng Sáu Năm cuối cùng không có sai phạm.

22. Ất Dậu - Trạch Thiên Quải, hào 5 (22 ~ 10)
- “Thượng Lục, vô hào, chung hữu hung.”
- “Sáu Trên, không phải gào khóc, cuối cùng khó tránh sự hung hiểm.”
- Tượng “Vô hào chi hung, chung bất khả trường dã.” – Không cần phải gào khóc, khó tránh sự hung hiểm, là tượng Sáu Trên trong tình thế ở cao bên trên, cuối cùng không thể lâu dài.

23. Bính Tuất – Thiên Trạch Lý, hào 4
- “Cửu Tứ, lý hổ vỹ, tố tố, chung cát.”
- “Chín Bốn, thận trọng đi sau đuôi hổ, nén được sự sợ hãi, giữ được sự thận trọng, cuối cùng sẽ được tốt lành.”
- Tượng “Tố tố chung cát, chí hành dã.” – Nén được sự sợ hãi, nói lên Chín Bốn đi với ý thức thận trọng theo lễ.

24. Đinh Hợi - Địa Sơn Khiêm, hào 4
- “Lục Tứ, vô bất lợi, vi khiêm.”
- “Sáu Bốn, không gì không lợi, phát huy, tán phát đức đẹp khiêm tốn.”
- Tượng “Vô bất lợi vi khiêm, bất vi tắc dã.” – Không gì không lợi, nói lên Sáu Bốn không làm trái phép tắc của đức “khiêm”.

25. Mậu Tý – Lôi Hỏa Phong, hào 6
- “Thượng Lục, phong kỳ ốc, bộ kỳ gia, khuy kỳ hộ, khuất kỳ vô nhân, tam tuế bất địch, hung.”
- “Sáu Trên, nhà cao cửa rộng, phòng ốc trướng rủ màn che, nhìn qua cửa sổ, tĩnh lặng không một bóng người, qua ba năm rồi vẫn không thấy ai, ẩn giấu quá kín như vậy tất có hung hiểm.”
- Tượng “Phong kỳ ốc, thiên tế đường dã ; khuy kỳ hộ, khuất kỳ vô nhân, tự tàng dã.” – Nhà cao cửa rộng, nói lên Sáu Trên ở ngôi cao cùng cực, như bay lượn trên bầu trời ; Nhìn qua cửa sổ tĩnh lạng không một bóng người, nói lên Sáu Trên tự ẩn giấu nơi sâu kín.

26. Kỷ Sửu – Phong Thủy Hoán, hào 2
- “Cửu Nhị, hoán bôn kỳ kỷ, hối vong.”
- “Chín Hai, ở thời lìa tan chạy đến (hào đầu), coi như ghế tựa để làm nơi dựa, hối hận sẽ mất hết.”
- Tượng “Hoán bôn kỳ kỷ, đắc nguyện dã.” - Ở thời lìa tan coi hào Đầu để làm nơi dựa (mà không dám “dẫm”), nói lên Chín Hai do sự âm dương tụ hợp được với nhau, nên toại nguyện.

27. Canh Dần - Thủy Phong Tỉnh, hào 2
- “Cửu Nhị, tỉnh cốc xạ phụ, ủng tệ lậu.”
- “Chín Hai, rốn giếng bị uổng dùng để bắn mấy con cá nhỏ, lúc này gầu bị thủng không có gì để múc nước.”
- Tượng “Tỉnh cốc xạ phụ, vô dữ dã.” - Rốn giếng bị uổng dùng, nói lên Chín Hai trên không có ứng.

28. Tân Mão - Hỏa Lôi Phệ hạp, hào 6
- “Thượng Cửu, hà hiệu diệt nhĩ, hung.”
- “Chín Trên, vai mang gông, bị tội nặng cắt tai, có hung hiểm.”
- “Tượng “Hà hiệu diệt nhĩ, thông bất minh dã.” - Bị tội nặng cắt tai, nói lên Chín Trên làm nhiều điều ác không sửa, rất không thông minh.

29. Nhâm Thìn – Sơn Địa Bác, hào 3 (29 – 41)
- “Lục Tam, bác, vô cữu.”
- “Sáu Ba, tuy ở thời “bác lạc” nhưng không cữu hại.”
- Tượng “Bác chi vô cữu, thất thượng dã.” – Tuy ở thời Bác, nhưng tất không cữu hại, nói lên ý Sáu Ba rời xa bầy âm ở trên và ở dưới, riêng ứng với dương cứng.

30. Quý Tị - Trạch Thiên Quải, hào 2 (30 ~ 42)
- “Cửu Nhị, thích hào, mạc dạ hữu nhung, vật tuất.”
- “Chín Hai, lúc nào cũng hô hào (mọi người) cảnh giác, (như vậy) dù nửa đêm có xẩy ra chiến sự cũng có thể đối phó, không phải lo lắng.”
- Tượng “Hữu nhung vật tuất, đắc trung đạo dã.” – Có xẩy ra chiến sự cũng không phải lo lắng, nói lên Chín Hai có được đạo giữa và thận trọng trong hành động.

31. Giáp Ngọ - Sơn Địa Bác, hào 4 (31 ~ 19)
- “Lục Tứ, bác sàng dĩ phu, hung.”
- “Sáu Bốn, làm sập giường đã sập đến dát giường, có hung hiểm.”
- Tượng “Bác sàng dĩ phu, thiết cận tai dã.” - Giường sập đến dát giường, nói lên ý Sáu Bốn đã sát gần tai họa.

32. Ất Mùi - Trạch Thiên Quải, hào 1 (32 ~ 20)
- “Sơ Cửu, tráng vu tiền chỉ, vãng bất thắng vi cữu.”
- “Chín Đầu, mạnh ở ngón chân trước, mạo hiểm tiến lên phía trước tất không thể thủ thắng, ngược lại sẽ dẫn đến cữu hại.”
- Tượng “Bất thắng nhi vãng, cữu dã.” – Không thể thủ thắng mà vội tiến lên, là mời gọi sự cữu hại đến.

33. Bính Thân – Thiên Trạch Lý, hào 3
- “Lục Tam, diêu năng thị, phả năng lý, lý hổ vỹ chất nhân, hung ; vu nhân vi vu đại quân.”
- “Sáu Ba, mắt chột mà cứ cố nhìn, chân què mà cứ cố đi, giẫm lên đuôi hổ bị nó cắn, có hung hiểm ; kẻ vũ dũng muốn làm như một bậc đại nhân quân chủ.”
- Tượng “Diêu năng thị, bất túc dĩ hữu minh dã ; phả năng lý, bất túc dĩ dữ hành dã ; chất nhân chi hung, vị bất đáng dã ; vũ nhân vi vu đại quân, chí cương dã.” - Mắt chột mà cứ cố nhìn, không đủ để phân biệt rõ vật. Chân què mà cứ cố đi, không đủ để đi trên đường dài. Sự hung hiểm của sự hổ dữ cắn người, nói lên Sáu Ba ở ngôi không thích đáng. Kẻ vũ dũng muốn làm như một bậc đại nhân quân chủ, nói lên chí hướng của Sáu Ba cương mạnh.

34. Đinh Dậu - Địa Sơn Khiêm, hào 5
- “Lục Ngũ, bất phú, dĩ kỳ lân lợi dụng xâm phạt, vô bất lợi.”
- “Sáu Năm, lòng rỗng không giầu, lợi trong việc cùng láng giềng xuất chinh đánh dẹp, không gì không lợi.”
- Tượng “Lợi dụng chinh phạt, chinh bất phục dã.” - Lợi về xuất chinh thảo phạt, nói lên Chín Năm chinh phạt kẻ kiêu hoạch bất thuận.

35. Mậu Tuất – Lôi Hỏa Phong, hào 5
- “Lục Ngũ, lai chương, hữu khánh dự, cát.”
- “Sáu Năm, mời người tài sáng đẹp trong thiên hạ để có được ánh sáng thịnh lớn, tất phải được phúc khánh và tiếng khen, tốt lành.”
- Tượng “Lục Ngũ chi cát, hữu khánh dã.” - Sự tốt lành của Sáu Năm, tất cóp phúc khánh.
Sáu Năm lấy chất âm ở ngôi cao tôn quý thời “thịnh lớn” (phong), tuy thể âm nhu mà thực có ngậm chất dương cứng, nên có thể mời được người, vì nó mềm tối nên mới đặt lời đó để mở mang cho nó

36. Kỷ Hợi – Phong Thủy Hoán, hào 3
- “Lục Tam, hoán kỳ cung, vô hối.”
- “Sáu Ba, tan lìa thân mình (phụ theo hào dương cứng ở ngôi cao), không có gì phải hối hận.”
- Tượng “Hoán kỳ cung, chí tại ngoại dã.” – Lìa tan thân mình, nói lên ý chí của Sáu Ba phát triển ra bên ngoài.

37. Canh Tý - Thủy Phong Tỉnh, hào 1
- “Sơ Lục, tỉnh nê bất thực, cựu tỉnh vô cầm.”
- “Sáu Đầu, đáy giếng bùn đọng không thể ăn được, giếng này đã từ lâu không nạo vét, ngay cả chim chóc cũng không đoái hoài tới.”
- Tượng “Tỉnh nê bất thực, hạ dã ; cựu tỉnh vô cầm, thời xả dã.” – Đáy giếng bùn đọng không thể ăn được, nói lên Sáu Đầu nhu ám, ở dưới thấp ; Lâu không nạo vét, ngay cả chim chóc cũng không đoái tới, nói lên Sáu Đầu nhất thời bị mọi người, mọi vật cùng bỏ.

38. Tân Sửu - Hỏa Lôi Phệ hạp, hào 1
- “Sơ Cửu, lý hiệu diệt chỉ, vô cữu.”
- “Chín Đầu, chân đạp vào cùm mà đứt ngón chân cái, không đến nỗi cữu hại.”
- Tượng “Lý hiệu diệt chỉ, bất hành dã.” – Chân đạp vào cùm mà đứt ngón chân cái, nói lên Chín Đầu không đi vào con đường trước mà tái phạm lỗi lầm.

39. Nhâm Dần – Sơn Địa Bác, hào 2 (39 ~ 51)
- “Lục Nhị, bác sàng dĩ biện, miệt ; trinh hung.”
- “Sáu Hai, làm sập giường đã sập đến bễ giường, bễ giường tất sẽ bị nát hỏng, giữ chính để phòng hung hiểm.”
- Tượng “Bác sàng dĩ biện, vị hữu dữ dã.” – Làm sập giường đã sập đến bễ giường, nói lên Sáu Hai chưa có được người giúp đỡ cùng ứng.

40. Quý Mão - Trạch Thiên Quải, hào 3 (40 ~ 52)
- “Cửu Tam, tráng vu cưu, hữu hung ; quân tử quải quải độc hành, ngộ vũ nhược nhu, hữu uốn, vô cữu.”
- “Chín Ba, cường thịnh ở gò má, sự giận thể hiện ở sắc mặt, như vậy tất có hung hiểm ; người quân tử nên cương nghị, quả đoán, riêng mình đi trước (bắt quen với tiểu nhân, đợi thời quyết trừ nó), mặc dù gặp phải cơn mưa âm dương hòa hợp, người bị ướt hết, thậm chí mọi người hiềm nghi, bị người giận, nhưng cuối cùng vẫn có thể xử tội được tiểu nhân mà không gặp cữu hại.”
- Tượng “Quân tử quải quải, trung vô cữu dã.” - Người quân tử cương nghị quả đoán, là nói cuối cùng có thể xử tội được kẻ tiểu nhân mà không có cữu hại gì.

41. Giáp Thìn – Sơn Địa Bác, hào 3 (41 ~ 29)
- “Lục Tam, bác, vô cữu.”
- “Sáu Ba, tuy ở thời “bác lạc” nhưng không cữu hại.”
- Tượng “Bác chi vô cữu, thất thượng dã.” – Tuy ở thời Bác, nhưng tất không cữu hại, nói lên ý Sáu Ba rời xa bầy âm ở trên và ở dưới, riêng ứng với dương cứng.

42. Ất T ị - Trạch Thiên Quải, hào 2 (42 ~ 30)
- “Cửu Nhị, thích hào, mạc dạ hữu nhung, vật tuất.”
- “Chín Hai, lúc nào cũng hô hào (mọi người) cảnh giác, (như vậy) dù nửa đêm có xẩy ra chiến sự cũng có thể đối phó, không phải lo lắng.”
- Tượng “Hữu nhung vật tuất, đắc trung đạo dã.” – Có xẩy ra chiến sự cũng không phải lo lắng, nói lên Chín Hai có được đạo giữa và thận trọng trong hành động.

43. Bính Ngọ - Thiên Trạch Lý, hào 2
- “Cửu Nhị, lý đạo thản thản, u nhân trinh cát.”
- “Chín Hai, thận trọng đi trên đường lớn bằng phẳng, người điềm đạm u tĩnh biết giữ vững chính bền thì được tốt lành.”
- Tượng “U nhân trinh cát, trung bất tự loạn dã.” - Người điềm đạm u tĩnh biết giữ chính, nói lên Chín Hai có lòng tin theo lễ thì tự trong lòng mình không rối loạn.

44. Đinh Mùi - Địa Sơn Khiêm, hào 6
- “Thượng Lục, minh khiêm, lợi dụng hành sư, chinh ấp quốc.”
- “Sáu Trên, tiếng tăm lừng lẫy về đức “khiêm”, có thể lợi dụng điều đó mà đem quân đi đánh, chinh phạt các nước nhỏ ở gần.”
- Tượng “Minh khiêm, chí vị đắc dã ; khả dụng hành sư, chinh ấp quốc dã.” – Danh tiếng lừng lẫy về đức khiêm, là nói chí Sáu Trên chưa hoàn toàn thực hiện được ; Có thể đem quân đi đánh, là nói chỉ đi đánh các đô ấp gần xung quanh.

45. Mậu Thân – Lôi Hỏa Phong, hào 4
- “Cửu Tứ, phong kỳ bộ, nhật trung kiến Đẩu ; ngộ kỳ di chủ, cát.”
- “Chín Bốn, tấm trướng lớn che kín ánh sáng, như mặt trời đang chính Ngọ lại mọc sao Bắc Đẩu ; nhưng có thể gặp được bạn dương đức ngang bằng vai vế, tốt lành.”
- Tượng “Phong kỳ bộ, vị bất đáng dã ; nhật trung kiến đẩu, u bật minh dã ; ngộ kỳ di chủ, cát hành dã.” - Tấm gương lớn che kín ánh sáng, nói lên ngôi vị của Chín Bốn không thỏa đáng ; Như mặt Trời đương lúc chính Ngọ lại mọc sao Bắc Đẩu, nói lên lúc này tối tăm không thấy ánh sáng ; Gặp người chủ dương đức ngang bằng vai vế, nói lên Chín Bốn đi lên tất sẽ được tốt lành.

46. Kỷ Dậu – Phong Thủy Hoán, hào 4
- “Lục Tứ, hoán kỳ quần, nguyên cát ; hoán hữu khâu, phỉ di sở tư.”
- “Sáu Bốn, giải tán bè phái, hết sức tốt lành ; giải tán một quần tụ nhỏ để thành một quần tụ lớn như gò đống, đó là điều người thường không thể nghĩ tới được.”
- Tượng “Hoán kỳ quần, nguyên cát, quang đại dã.” - Giải tán bè phái hết sức tốt lành, nói lên phẩm đức của Sáu Bốn quang minh chính đại.

47. Canh Tuất - Thủy Phong Tỉnh, hào 6
- “Thượng Lục, tỉnh thu, vật mạc ; hữu phu, nguyên cát.”
- “Sáu Trên, công dụng của giếng nước đã thành, không phải đậy giếng lại nữa ; lúc này giữ lòng thành tín thì hết sức tốt lành.”
- Tượng “Nguyên cát tại thượng, đại thành dã.” – Sáu Trên ở cao ngôi trên, hết sức tốt lành, nói lên công dụng của giếng đã đại thành.

48. Tân Hợi - Hỏa Lôi Phệ hạp, hào 2
- “Lục Nhị, phệ phu, diệt tị, vô cữu.”
- “Sáu Hai, gia hình dễ dàng như cắn vào da mềm, dù có sứt sống mũi của phạm nhân, cũng không đến nỗi cữu hại.”
- Tượng “Phệ phu diệt tị, thặng cương dã.” – Gia hình dễ dàng như cắn vào da mềm, đứt sống mũi của phạm nhân, nói lên Sáu Hai cưỡi lên kẻ cương cường (phải dùng nghiêm hình để chế phục mọi người)

49. Nhâm Tý – Sơn Địa Bác, hào 1 (49 ~ 1)
- “Sơ Lục, bác sàng dĩ túc, miệt ; trinh hung.”
- “Sáu Đầu, làm sập giường trước tiên phải đẽo từ chân, chân giường tất sẽ gẫy guc ; giữ chính phòng hung.”
- Tượng “Bác sàng dĩ túc, dĩ miệt hạ dã.” – Làm sập giường trước hết phải đẽo từ chân, nói lên ý trước tiên cần làm ruỗng mọt phần nền móng phí dưới.

50. Quý Sửu - Trạch Thiên Quải, hào 4 (50 ~ 2)
- “Cửu Tứ, đôn vô phu, kỳ hành tư thư ; khiên dương hối vong, văn ngôn bất tín.”
- “Chín Bốn, mông mất da, đi lại chập chững khó tiến ; nếu dắt dê thật chắc chắn (khỏe mạnh giống như tôn quý dương cứng) thì sự hối hận sẽ mất, e rằng lời này nó không chắc đã nghe theo.”
- Tượng “Kỳ hành tư thư, vị bất đáng dã ; văn ngôn bất tín, thông bất minh dã.” – Đi lại chập chững khó tiến, là tượng Chín Bốn ngôi vị không thỏa đáng ; Nghe lời này mà không thể tin theo, nói lên Chín Bốn mặc dầu nghe thấy mà không thể xét rõ sự lý.

51. Giáp Dần – Sơn Địa Bác, hào 2 (51 ~ 39)
- “Lục Nhị, bác sàng dĩ biện, miệt ; trinh hung.”
- “Sáu Hai, làm sập giường đã sập đến bễ giường, bễ giường tất sẽ bị nát hỏng, giữ chính để phòng hung hiểm.”
- Tượng “Bác sàng dĩ biện, vị hữu dữ dã.” – Làm sập giường đã sập đến bễ giường, nói lên Sáu Hai chưa có được người giúp đỡ cùng ứng.

52. Ất Mão - Trạch Thiên Quải, hào 3 (52 ~ 40)
- “Cửu Tam, tráng vu cưu, hữu hung ; quân tử quải quải độc hành, ngộ vũ nhược nhu, hữu uốn, vô cữu.”
- “Chín Ba, cường thịnh ở gò má, sự giận thể hiện ở sắc mặt, như vậy tất có hung hiểm ; người quân tử nên cương nghị, quả đoán, riêng mình đi trước (bắt quen với tiểu nhân, đợi thời quyết trừ nó), mặc dù gặp phải cơn mưa âm dương hòa hợp, người bị ướt hết, thậm chí mọi người hiềm nghi, bị người giận, nhưng cuối cùng vẫn có thể xử tội được tiểu nhân mà không gặp cữu hại.”
- Tượng “Quân tử quải quải, trung vô cữu dã.” - Người quân tử cương nghị quả đoán, là nói cuối cùng có thể xử tội được kẻ tiểu nhân mà không có cữu hại gì.

53. Bính Thìn – Thiên Trạch Lý, hào 1
- “Sơ Cửu, tố lý, vãng vô cữu.”
- “Chín Đầu, chất phác trong trắng không hào hoa, thận trọng trong đi lại, cứ thẳng tiến tất không có cữu hại.”
- Tượng “Tố lý chi vãng, độc hành nguyện dã.” - Chất phác trong trắng không hào hoa, thận trọng đi lại mà cứ thẳng tiến, nói lên ý nguyện của Chín Đầu một lòng đi theo lễ.

54. Đinh Tị - Địa Sơn Khiêm, hào 1
- “Sơ Lục, khiêm khiêm quân tử, dụng thiệp đại xuyên, cát.”
- “Sáu Đầu, người quân tử khiêm mà lại khiêm, sẽ có thể vượt qua sông cả sóng lớn, tốt lành.”
- Tượng “Khiêm khiêm quân tử, ti dĩ tự mục dã.” - Người quân tử khiêm mà lại khiêm, ý nói Sáu Đầu lấy sự khiêm tốn để chế ước bản thân.

55. Mậu Ngọ - Lôi Hỏa Phong, hào 3
- “Cửu Tam, phong kỳ bái, nhật trung kiến muội ; chiết kỳ hữu quăng, vô cữu.”
- “Chín Ba, tấm màn lớn che kín ánh sáng, như mặt trời đang chính Ngọ mà mọc sao nhỏ, nếu có thể khom mình, thận trọng giữ gìn như bị gẫy cánh tay phải thì không bị cữu hại.”
- Tượng “Phong kỳ bái, bất khả đại sự dã ; chiết kỳ hữu quăng, chung bất khả dụng dã.” - Tấm màn lớn che kín ánh sáng, nói lên Chín Ba không thể đảm nhiệm việc lớn ; Khom mình thận trọng giữ gìn, nói lên Chín Ba cuối cùng không thể thi thố được tài năng.

56. Kỷ Mùi – Phong Thủy Hoán, hào 5
- “Cửu Ngũ, hoán hãn kỳ đại hiệu, hoán vương cư, vô cữu.”
- “Chín Năm, ban bố hiệu lệnh lớn (như mồ hôi toát ra trên thân mình xuất ra mà không trở lại), lại tán phát của cải trong kho vua để ty hợp lòng người trong thiên hạ, tất không có cữu hại.”
- Tượng “Vương cư vô cữu, chính vị dã.” – Tán phát của cải trong kho vua, nói lên Chín Năm chính cư ngôi tôn của bậc “vương chủ”.

57. Canh Thân - Thủy Phong Tỉnh, hào 5
- “Cửu Ngũ, tỉnh liệt, hàn tuyền thực.”
- “Chín Năm, nước giếng trong như suối mát có thể múc để nấu ăn.”
- Tượng “Hàn tuyền chi thực, trung chính dã.” - Nước trong có thể múc nấu ăn, nói lên Chín Năm có đầy đủ đức đẹp dương cứng, trung chính.

58. Tân Dậu - Hỏa Lôi Phệ hạp, hào 3
- “Lục Tam, phệ tích nhục, ngộ độc ; tiểu lận, vô cữu.”
- “Sáu Ba, gia hình không thuận lợi, như cắn phải thịt khô rắn cứng, lại ngộ độc ; nhưng như vậy bất quá chỉ hơi tiếc, chứ không đến nỗi cữu hại.”
- Tượng “Ngộ độc, vị bất đáng dã.” – Khi cắn thịt khô lại bị ngộ độc, nói lên Sáu Ba cư vị không thỏa đáng, đến nỗi bị kẻ thụ hình sinh oán.

59. Nhâm Tuất – Sơn Địa Bác, hào 6 (59 ~ 11)
- “Thượng Cửu, thạc quả bất thực, quân tử đắc dư, tiểu nhân bác lư.”
- “Chín Trên, quả lớn chưa bị hái xuống ăn, người quân tử hái được nó thì sẽ có thể ruổi xe đi cứu đời, kẻ tiểu nhân hái được tất sẽ đi đến chỗ phá vạn nhà.”
- Tượng “Quân tử đắc dư, dân sở tải dã ; tiểu nhân bác lư, chung bất khả dụng dã.” - Người quân tử hái được, tượng ý trăm họ do vậy được bề trên che chở ; Kẻ tiểu nhân hái được, tượng ý kẻ tiểu nhân cuối cùng không thể tin dùng được.

60. Quý Hợi - Trạch Thiên Quải, hào 5 (60 ~ 12)
- “Cửu Ngũ, nghiễn lục quải quải, trung hàng vô cữu.”
- “Chín Năm, quả quyết trừ kẻ tiểu nhân, như đào tận gốc rau sam mềm ròn, ở đạo giữ đi đường chính thì tất không cữu hại.”
- Tượng “Trung hàng vô cữu, trung vị quang dã.” - Ở ngôi giữa đi đường chính, ý tượng nói lên đạo giữa chính của Chín Năm còn chưa sáng lớn.

CHU KỲ 5

 
7
THIÊN LÔI
VÔ VỌNG
549
30
SƠN THỦY
MÔNG
480
49
LÔI THIÊN
ĐẠI TRÁNG
423

58
ĐỊA PHONG
THĂNG
396


44
THỦY SƠN
KIỂN
438
21
HỎA TRẠCH
KHUÊ
507
35
TRẠCH HỎA
CÁCH
465
16
PHONG ĐỊA
QUAN
522


1. Giáp Tý – Phong Địa Quán, hào 1 
- “Sơ Lục, đồng quán, tiểu nhân vô cữu, quân tử lận.”
- “Sáu Đầu, như trẻ nhỏ ngẩng trông cảnh vật, tiểu nhân không nguy hại gì, quân tử tất có hối tiếc.”
- Tượng “Sơ Lục đồng quán, tiểu nhân đạo dã.” – Như trẻ nhỏ ngẩng trông cảnh vật, đây là cái lẽ sự hiểu biết nông cạn của kẻ tiểu nhân.

2. Ất Sửu – Lôi Thiên Đại tráng, hào 4 (2 ~ 50)
- “Cửu Tứ, trinh cát, hối vong ; phiên quyết bất luy, tráng vu đại dư chi phúc.”
- “Chín Bốn, giữ vững chính bền thì được tốt lành, sự hối hận tất sẽ mất hết ; cũng như phên giậu dễ bị bật tung nên sừng dê không bị mắc vào nữa, như cỗ xe lớn trục xe vững vàng.”
- Tượng “Phiên quyết bất luy, thượng vãng dã.” – Phên giậu đã bị bật tung nên sừng không bị mắc vào nữa, nói lên Chín Bốn lợi về sự đi.

3. Bính Dần - Hỏa Trạch Khuê, hào 6
- “Thượng Cửu, khuê cô, kiến thỉ phụ đồ, tải quỷ nhất xa, tiên trương chi hồ, hậu thoát chi hồ ; phỉ khấu, hôn cấu ; vãng ngộ vũ tắc cát.”
- “Chín Trên, trái lìa hết mức, cô độc hồ nghi, hoảng hốt như nhìn thấy con lợn lưng bám đầy bùn, lại thấy như một cỗ xe lớn chở đầy quỷ đang chạy, thoạt tiên thì dương cung muốn bắn, sau lại buông cung xuống ; thì ra không phải là giặc mạnh, mà là một cô gái đẹp tới kết hôn với mình ; lúc này mà đi gặp cơn mưa lành, hòa hợp âm dương thì được tốt lành.”
- Tượng “Ngộ vũ chi cát, quần nghi vong dã.” - Gặp cơn mưa lành, hòa hợp âm dương thì được tốt lành, nói lên mọi điều ức đoán, nghi ngờ của Chín Trên đều bị tiêu tan.

4. Đinh Mão - Thủy Sơn Kiển, hào 2
- “Lục Nhị, vương thần kiển kiển, phỉ cung chi cố.”
- “Sáu Hai, người bề tôi của đấng quân vương ra sức bôn tẩu để vượt qua “kiển nạn”, không phải vì bản thân.”
- Tượng “Vương thần kiển kiển, chung vô cữu dã.” - Người bề tôi của đấng quân vương ra sức bôn tẩu để vượt qua kiển nạn, nói lên Sáu Hai cuối cùng sẽ không lỗi.

5. Mậu Thìn - Trạch Hỏa Cách, hào 2
- “Lục Nhị, kỷ nhật nãi cách chi, chinh cát, vô cữu.”
- “Sáu Hai, vào “ngày Kỷ” phải chuyển biến gấp thì phải quả đoán mà tiến hành biến cách, tiến lên phía trước tất có sự tốt lành, không bị cữu hại.”
- Tượng “Kỷ nhật cách chi, hành hữu giai dã.” – Vào ngày Kỷ thì phải chuyển biến gấp, nói lên Sáu Hai gắng đi lên tất có công tốt đẹp.

6. Kỷ Tị - Sơn Thủy Mông – hào 6
- “Thượng Cửu, kích mông ; bất lợi vi khấu, lợi ngự khấu.”
- “Chín Trên, làm mạnh để mở mang sự ngu tối ; không lợi về sự dùng cách thức quá dữ dằn, cách này chỉ nên dùng để ngừa giặc mạnh.”
- Tượng “Lợi dụng ngự khấu, thượng hạ thuận dã.” - Lợi nếu dùng cách ngừa giặc mạnh để trừ sự ngu tối, là nói rằng có thể khiến cho ý chí trên dưới hài hòa, ứng thuận.

7. Canh Ngọ - Địa Phong Thăng, hào 4
- “Lục Tứ, vương dụng hưởng vu Kỳ Sơn, cát, vô cữu.”
- “Sáu Bốn, nhà vua đến núi Kỳ Sơn tế thần linh, tốt lành, tất không cữu hại.”
- Tượng “Vương dụng hưởng vu Kỳ Sơn, thuận sự dã.” – Nhà Vua đến núi Kỳ Sơn tế thần linh, nói lên Sáu Bốn phải thuận theo nhà Vua lập công lập việc.

8. Tân Mùi – Thiên Lôi Vô vọng, hào 4
- “Cửu Tứ, khả trinh, vô cữu.”
- “Chín Bốn, có thể giữ vững chính bền, do đó tất không bị cữu hại.”
- Tượng “Khả trinh vô cữu, cố hữu chi dã.” – Có thể giữ vững chính bền, nói lên Chín Bốn phải nắm bắt được cái bền, giữ được cái chính, mới có thể bảo tồn được sự vô hại lâu dài.

9. Nhâm Thân – Phong Địa Quán, hào 5 (9 ~ 21)
- “Cửu Ngũ, quán ngã sinh, quân tử vô cữu.”
- “Chín Năm, được mọi người ngẩng trông đồng thời tự xét hành vi của mình, người quân tử tất vô cữu hại.”
- Tượng “Quán ngã sinh, quán dân dã.” - Được mọi người ngẩng trông và tự xét hành vi của mình, nói lên Chín Năm nên thông qua sự quan sát phong tục của dân mà từ xét mình.

10. Quý Dậu – Lôi Thiên Đại tráng, hào 6 (10 ~ 22)
- “Thượng Lục, đê dương xúc phiên, bất năng thoái, bất năng toại, vô du lợi ; gian tắc cát.”
- “Sáu Trên, dê lớn húc giậu, không thể lui, không thể tiến, không có gì là lợi ; tự giữ vững lòng trinh thì được tốt lành.”
- Tượng “Bất năng thoái, bất năng toại, bất tường dã ; gian tắc cát, cữu bất trường dã.” – Không thể lui không thể tiến, nói lên Sáu Trên giải quyết công việc không tường tận kỹ lưỡng ; Tự giữ vững lòng trinh thì được tốt lành, nói lên Sáu Trên gặp cữu hại không đến nỗi lâu dài.

11. Giáp Tuất – Phong Địa Quán, hào 6 (11 ~ 59)
- “Thượng Cửu, quán kỳ sinh, quân tử vô cữu.”
- “Chín Trên, mọi người đều ngẩng trông mọi hành vi của nó, người quân tử tất vô cữu hại.”
- Tượng “Quán kỳ sinh, chí vị bình dã.” - Mọi người đều ngẩng trông mọi hành vi của nó, nói lên tâm chí sửa đức của Chín Trên chưa thể yên vui thư thái được.

12. Ất Hợi – Lôi Thiên Đại tráng, hào 5 (12 ~ 60)
- “Lục Ngũ, táng dương vu dị, vô hối.”
- “Sáu Năm, mất dê ở bờ ruộng, không có gì hối hận.”
- Tượng “Táng dương vu dị, vị bất đáng dã.” - Mất dê ở bờ ruộng, nói lên ngôi của Sáu Năm không thích đáng.

13. Bính Tý - Hỏa Trạch Khuê, hào 5
- “Lục Ngũ, hối vong, quyết tông phệ phu, vãng hà cữu.”
- “Sáu Năm, hối hận mất hết, kẻ trong họ thân ứng với nó, cắn vào da mềm giòn của nó (như với ý hòa thuận mong được gặp gỡ), đi lên thì sao mà cữu hại được ?
- Tượng “Quyết tông phệ phu, vãng hữu khánh dã.” - Kẻ trong họ thân ứng với nó (như) cắn vào da mềm giòn của nó, nói lên lúc này Sáu Năm mà đi tất vui.

14. Đinh Sửu - Thủy Sơn Kiển, hào 3
- “Cửu Tam, vãng kiển, lai phản,”
- “Chín Ba, tiến lên thì gian nan, quay lại là trở về nơi chốn của mình.”
- Tượng “Vãng kiển lai phản, nội hỷ chi dã.” - Tiến lên thì gian nan, quay trở lại là trở về nơi chốn của mình, nói lên các hào âm mềm ở trong quẻ đều vui mừng thấy Chín Ba quay lại.

15. Mậu Dần - Trạch Hỏa Cách, hào 1
- “Sơ Cửu, củng dụng hoàng ngưu chi cách.”
- “Chín Đầu, nên bó chặt bằng da con bò vàng.”
- Tượng “Củng dụng hoàng ngưu, bất khả dĩ hữu vi dã.” – Bó chặt bằng da bò, nói lên Chín Đầu không thể bạ việc gì cũng làm bừa làm càn để biến cách.

16. Kỷ Mão – Sơn Thủy Mông, hào 1
- “Sơ Lục, phát mông, lợi dụng hình nhân, dụng thoát chất cốc ; dĩ vãng lận.”
- “Sáu Đầu, mở mang đầu óc, lợi ở chỗ tạo dựng ra khuôn mẫu để giáo dục người, khiến cho người ta không phạm tội ác ; nếu đi lên quá mức tất sẽ hối tiếc.”
- Tượng “Lợi dụng hình nhân, dĩ chính pháp dã.” - Lợi ở chỗ tạo dựng ra khuôn mẫu để giáo dục người, là để mọi người tuân theo các phép tắc đúng đắn.

17. Canh Thìn - Địa Phong Thăng, hào 3
- “Cửu Tam, thăng hư ấp.”
- “Chín Ba, lên cao dễ dàng như vào thẳng nơi thành ấp không người.”
- Tượng “Thăng hư ấp, vô sở nghi dã.” – Lên cao dễ dàng như vào nơi không người, nói lên lúc này Chín Ba “thượng thăng” sẽ không có điều gì phải nghi ngờ suy nghĩ.

18. Tân Tị - Thiên Lôi Vô vọng, hào 5
- “Cửu Ngũ, vô vọng chi tật, vật dược hữu hỷ.”
- “Chín Năm, không càn bậy mà bị bệnh nhẹ, không cần phải uống thuốc mà sẽ vui vì khỏi bệnh.”
- Tượng “Vô vọng chi dược, bất khả thí dã.” – Không càn bậy mà bị bệnh nhưng không cần phải uống thuốc, đó là vì không thể dùng thử linh tinh. “Bất khả thí” - tức không được thử thuốc. Thuốc công hiệu với những kẻ làm càn, mà không công hiệu với những ai không làm càn, cho nên nói “bất khả thí” vậy.

19. Nhâm Ngọ - Phong Địa Quán, hào 4 (19 ~ 31)
- “Lục Tứ, quán quốc chi quang, lợi dụng tân vu vương.”
- “Sáu Bốn, ngẩng trông sự rực rỡ thịnh trị của vương triều, lợi khi thành quý khách của bậc quân vương.”
- Tượng “Quán quốc chi quang, thượng tân dã.” - Ngẩng trông sự rực rỡ thịnh trị của vương triều, nói lên ý thời này đất nước đã chính thức có lễ tỏ lòng chuộng hiền khách.

20. Quý Mùi – Lôi Thiên Đại tráng, hào 1 (20 ~ 32)
- “Sơ Cửu, tráng vu chỉ, chinh hung ; hữu phu.”
- “Chín Đầu, mạnh ở ngón chân, đi lên tất có hung hiểm ; nên lấy sự thành tín tự giữ.”
- Tượng “Tráng vu chỉ, kỳ phu cùng dã.” - Mạnh ở ngón chân, nói lên Chín Đầu nên lấy sự thành tín tự giữ, khéo sử lý sự cùng khốn.

21. Giáp Thân – Phong Địa Quán, hào 5 (21 ~ 9)
- “Cửu Ngũ, quán ngã sinh, quân tử vô cữu.”
- “Chín Năm, được mọi người ngẩng trông đồng thời tự xét hành vi của mình, người quân tử tất vô cữu hại.”
- Tượng “Quán ngã sinh, quán dân dã.” - Được mọi người ngẩng trông và tự xét hành vi của mình, nói lên Chín Năm nên thông qua sự quan sát phong tục của dân mà từ xét mình.

22. Ất Dậu – Lôi Thiên Đại tráng, hào 6 (22 ~ 10)
- “Thượng Lục, đê dương xúc phiên, bất năng thoái, bất năng toại, vô du lợi ; gian tắc cát.”
- “Sáu Trên, dê lớn húc giậu, không thể lui, không thể tiến, không có gì là lợi ; tự giữ vững lòng trinh thì được tốt lành.”
- Tượng “Bất năng thoái, bất năng toại, bất tường dã ; gian tắc cát, cữu bất trường dã.” – Không thể lui không thể tiến, nói lên Sáu Trên giải quyết công việc không tường tận kỹ lưỡng ; Tự giữ vững lòng trinh thì được tốt lành, nói lên Sáu Trên gặp cữu hại không đến nỗi lâu dài.

23. Bính Tuất - Hỏa Trạch Khuê, hào 4
- “Cửu Tứ, khuê cô ; ngộ nguyên phu, giao phu, lệ vô cữu.”
- “Chín Bốn, chống đối, chia lìa, thui thủi một mình ; gặp chàng trai tốt dương cứng mà đối xử thành tín với nhau, thì tuy có nguy hiểm nhưng tránh được cữu hại.”
- Tượng “Giao phu vô cữu, chí hành dã.” - Đối xử thành tín với nhau, thì tuy có nguy hiểm, nhưng lại tránh được cữu hại, nói lên chí hướng của Chín Bốn được thực hành để qua được thời khuê.

24. Đinh Hợi - Thủy Sơn Kiển, hào 4
- “Lục Tứ, vãng kiển, lai liên.”
- “Sáu Bốn, tiến lên thì gian nan, quay lại gặp gian nan.”
- Tượng “Vãng kiển lai liên, vị đáng thực dã.” - Tiến lên thì gặp kiển nạn, quay lại lại gặp gian nan, nói lên Sáu Bốn chính là đáng ngôi thật (kiển nạn không phải đưa lại một cách vu vơ)

25. Mậu Tý - Trạch Hỏa Cách, hào 6
- “Thượng Lục, quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện ; chinh hung, cư trinh cát.”
- “Sáu Trên, người quân tử như được con báo đốm giúp đã làm nên sự biến cách, kẻ tiểu nhân đua nhau thay đổi khuynh hướng thời trước ; lúc này nếu cứ tiếp tục tiến mạnh không thôi, tất có hung hiểm, ở yên giữ chính thì được tốt lành.”
- Tượng “Quân tử báo biến, kỳ văn úy dã ; tiểu nhân cách diện, thuận dĩ tòng quân dã.” - Người quân tử như được con báo đốm giúp đã làm nên sự biến cách, nói lên mỹ đức của Sáu Trên nhân vì vẻ tươi tắn sáng sủa của bậc đại nhân mà thành ra rực rỡ ; kẻ tiểu nhân đua nhau thay đổi khuynh hướng thời trước, đây là thuận tòng sự biến cách của nhà vua.

26. Kỷ Sửu – Sơn Thủy Mông, hào 2
- “Cửu Nhị, bao mông, cát. Nạp phụ, cát ; tử khắc gia.”
- “Chín Hai, được trẻ nhỏ vậy quanh, tốt lành. Như đón được người vợ hiền thục đẹp đẽ về nhà, tốt lành ; lại như người con coi sóc được việc nhà.”
- Tượng “Tử khắc gia, cương nhu tiếp dã.” - Người con coi sóc được việc nhà, nói lên Chín Hai dương cứng ứng với Sáu Năm âm mềm.

27. Canh Dần - Địa Phong Thăng, hào 2
- “Cửu Nhị, phu nãi lợi dụng Thược, vô cữu.”
- “Chín Hai, chỉ cần lòng giữ thành tín thì dù làm lễ “tế Thược” đơn sơ, cũng lợi về sự dâng tiến lên thần linh, không đến nỗi cữu hại.”
- Tượng “Cửu Nhị chi phu, hữu hỷ dã.” - Đức đẹp thành tín của Chín Hai tất sẽ đem lại sự vui mừng, phúc khánh.

28. Tân Mão – Thiên Lôi Vô vọng, hào 6
- “Thượng Cửu, vô vọng, hành hữu sảnh, vô du lợi.”
- “Chín Trên, tuy không làm bậy nhưng ở thế cùng mà đi thì tất gặp họa, không được lợi gì.”
- Tượng “Vô vọng chi hành, cùng chi tai dã.” – Chín Trên tuy không làm bậy nhưng nếu có sự đi, thì sẽ do thế cùng, khó thông mà gặp phải tai ương.

29. Nhâm Thìn – Phong Địa Quán, hào 3 (29 ~ 41)
- “Lục Tam, quán ngã sinh, tiến thoái.”
- “Sáu Ba, ngẩng trông đức đẹp của dương cứng rồi đối chiếu, tự xét hành vi của mình mà cẩn thận lựa chọn sự tiến lui.”
- Tượng “Quán ngã sinh tiến thoái, vị thất đạo dã.” - Ngẩng trông rồi đối chiếu tự xét hành vi của mình, nói lên Sáu Ba không để mất sự chính xác của đạo “ngẩng trông”.

30. Quý Tị - Lôi Thiên Đại tráng, hào 2 (30 ~ 42)
- “Cửu Nhị, trinh cát.”
- “Chín Hai, giữ vững chính (bền) thì được tốt lành.”
- Tượng “Cửu Nhị trinh cát, dĩ trung dã.” – Chín Hai giữ chính thì được tốt lành, đó là bởi do nguyên cớ dương cứng ở ngôi giữa.

31. Giáp Ngọ - Phong Địa Quan, hào 4 (31 ~ 19)
- “Lục Tứ, quán quốc chi quang, lợi dụng tân vu vương.”
- “Sáu Bốn, ngẩng trông sự rực rỡ thịnh trị của vương triều, lợi khi thành quý khách của bậc quân vương.”
- Tượng “Quán quốc chi quang, thượng tân dã.” - Ngẩng trông sự rực rỡ thịnh trị của vương triều, nói lên ý thời này đất nước đã chính thức có lễ tỏ lòng chuộng hiền khách.

32. Ất Mùi – Lôi Thiên Đại tráng, hào 1 (32 ~ 20)
- “Sơ Cửu, tráng vu chỉ, chinh hung ; hữu phu.”
- “Chín Đầu, mạnh ở ngón chân, đi lên tất có hung hiểm ; nên lấy sự thành tín tự giữ.”
- Tượng “Tráng vu chỉ, kỳ phu cùng dã.” - Mạnh ở ngón chân, nói lên Chín Đầu nên lấy sự thành tín tự giữ, khéo sử lý sự cùng khốn.

33. Bính Thân - Hỏa Trạch Khuê, hào 3
- “Lục Tam, kiến dư duệ, kỳ ngưu xiết ; kỳ nhân thiên thả tị. Vô sơ hữu chung.”
- “Sáu Ba, dường như nhìn thấy cỗ xe lớn bị kéo khó đi, trâu kéo xe bị cản không tiến được, như người bị khốc hình gọt tóc, xẻo mũi. Mới đầu trái lìa, sau sẽ hòa hợp.”
- Tượng “Kiến dư duệ, vị bất đáng dã ; vô sơ hữu chung, ngộ cương dã.” - Dường như thấy cỗ xe lớn bị kéo khó đi, đây là do ngôi của Sáu Ba ở nơi không thích hợp gây nên ; Mới đầu trái lìa, sau sẽ hòa hợp, nói lên cuối cùng Sáu Ba tất gặp được hào dương cứng tương ứng.

34. Đinh Dậu - Thủy Sơn Kiển, hào 5
- “Cửu Ngũ, đại kiển, bằng lai.”
- “Chín Năm, đi thì mười phần gian nan, bè bạn tấp nập kéo đến giúp đỡ.”
- Tượng “Đại kiển bằng lai, dĩ trung tiết dã.” – Đi thì mười phần gian nan, bạn bè tấp nập kéo đến giúp đỡ, nói lên Chín Năm giữ khí tiết dương cứng trung chính.

35. Mậu Tuất - Trạch Hỏa Cách, hào 5
- “Cửu Ngũ, đại nhân hổ biến, vị chiêm hữu phu.”
- “Chín Năm, bậc đại nhân tiến hành biến cách như con mãnh hổ, không nghi ngờ gì nữa, tất sẽ làm sáng tỏ đức đẹp thành tín, chân thực.”
- Tượng “Đại nhân hổ biến, kỳ văn bỉnh dã.” - Bậc đại nhân tiến hành biến cách như con mãnh hổ, nói lên đức đẹp của Chín Năm mang mầu vẻ đẹp đẽ.

36. Kỷ Hợi – Sơn Thủy Mông, hào 3
- “Lục Tam, vật dụng thủ nữ, kiến kim phu, bất hữu cung, vô du lợi.”
- “Sáu Ba, không nên lấy người con gái này, trong mắt cô ta chỉ thấy người chồng đẹp mã thôi, không biết giữ mình, lấy cô ta không có lợi gì hết.”
- Tượng “Vật dụng thủ nữ, hạnh bất thuận dã.” – Không nên lấy người con gái này, nói lên Sáu Ba có đức hạnh không hợp với lễ tiết.

37. Canh Tý - Địa Phong Thăng, hào 1
- “Sơ Lục, doãn thăng, đại cát.”
- “Sáu Đầu, thích hợp về sự cao, hết sức tốt lành.”
- Tượng “Doãn thăng đại cát, thượng hợp chí dã.” – Thích hợp về sự lên cao, hết sức tốt lành, nói lên Sáu Đầu đội trên mà thuận hợp với tâm chí của hai hào dương rồi cùng “thăng”.

38. Tân Sửu – Thiên Lôi Vô vọng, hào 1
- “Sơ Cửu, vô vọng, vãng cát.”
- “Chín Đầu, không làm càn, đi tất sẽ được tốt lành.”
- Tượng “Vô vọng chi vãng, đắc chí dã.” – Không làm càn mà đi, ý nói Chín Đầu tất nhiên được toại ý tiến thủ.

39. Nhâm Dần – Phong Địa Quan, hào 2 (39 ~ 51)
- “Lục Nhị, khuy quán, lợi nữ trinh.”
- “Sáu Hai, lén ngẩng trông cảnh vật đẹp thịnh, lợi cho người con gái giữ vững chính bền.”
- Tượng “Khuy quán nữ trinh, diệc khả xú dã.” – Lén ngẩng trông cảnh vật đẹp thịnh, lợi cho người con gái, còn đối với người con trai mà nói là đáng xấu hổ vậy.

40. Quý Mão – Lôi Thiên Đại tráng, hào 3 (40 ~ 52)
- “Cửu Tam, tiểu nhân dụng tráng, quân tử dụng võng ; trinh lệ, đê dương xúc phiên, luy kỳ giác.”
- “Chín Ba, kẻ tiểu nhân dùng bừa sức mạnh, quân tử tuy mạnh nhưng không thế ; giữ vững chính để phòng nguy hiểm, nếu như con dê lớn mà húc mạnh vào giậu thì tất bị mắc sừng.”
- Tượng “Tiểu nhân dụng tráng, quân tử võng dã.” - Tiểu nhân dùng bừa sức mạnh, người quân tử tuy mạnh nhưng không thế.

41. Giáp Thìn – Phong Địa Quán, hào 3 (29 ~ 41)
- “Lục Tam, quán ngã sinh, tiến thoái.”
- “Sáu Ba, ngẩng trông đức đẹp của dương cứng rồi đối chiếu, tự xét hành vi của mình mà cẩn thận lựa chọn sự tiến lui.”
- Tượng “Quán ngã sinh tiến thoái, vị thất đạo dã.” - Ngẩng trông rồi đối chiếu tự xét hành vi của mình, nói lên Sáu Ba không để mất sự chính xác của đạo “ngẩng trông”.

42. Ất Tị - Lôi Thiên Đại tráng, hào 2 (42 ~ 30)
- “Cửu Nhị, trinh cát.”
- “Chín Hai, giữ vững chính (bền) thì được tốt lành.”
- Tượng “Cửu Nhị trinh cát, dĩ trung dã.” – Chín Hai giữ chính thì được tốt lành, đó là bởi do nguyên cớ dương cứng ở ngôi giữa.

43. Bính Ngọ - Hỏa Trạch Khuê, hào 2
- “Cửu Nhị, ngộ chủ vu hạng, vô cữu.”
- “Chín Hai, trong ngõ không hẹn mà gặp chủ, tất không cữu hại.”
- Tượng “Ngộ chủ vu hạng, vị thất đạo dã.” – Trong ngõ không hẹn mà gặp chủ, nói lên Chín Hai chưa từng phạm vào cách xử sự ở thời Khuê.

44. Đinh Mùi - Thủy Sơn Kiển, hào 6
- “Thượng Lục, vãng kiển, lai thạc ; cát, lợi hiện đại nhân.”
- “Sáu Trên, đi lên thì gian nan, quay lại có thể lập công lớn ; tốt lành, lợi về sự xuất hiện đại nhân.”
- Tượng “Vãng kiển lai thạc, chí tại nội dã ; lợi hiện đại nhân, dĩ tòng quý dã.” – Đi lên thì gian nan, nói lên chí hướng của Sáu Trên là liên hợp bên trong cùng nhau vượt gian nan ; Lợi về sự xuất hiện đại nhân, nói lên Sáu Trên nên theo giúp bậc quân chủ dương cứng tôn quý.

45. Mậu Thân - Trạch Hỏa Cách, hào 4
- “Cửu Tứ, hối vong, hữu phu cải mệnh, cát.”
- “Chín Bốn, hối hận mất hết, giữ lòng thành tín để cách trừ (vương) mệnh cũ, tốt lành.”
- Tượng “Cải mệnh chi cát, tín chí dã.” – Cách (vương) mệnh cũ thì được tốt lành, nói lên Chín Bốn thực hiện chí biến cách.

46. Kỷ Dậu – Sơn Thủy Mông, hào 4 (Khốn vòng 2)
- “Lục Tứ, khốn mông, lận.”
- “Sáu Bốn, khốn vì tăm tối, có sự hối tiếc.”
- Tượng “Khốn mông chi lận, độc viễn thực dã.” - Hối tiếc do khốn vì tăm tối, nói lên Sáu Bốn cách xa “mông sư” cứng, khỏe, vững.

47. Canh Tuất - Địa Phong Thăng, hào 6
- “Thượng Lục, minh thăng, lợi vu bất tức chi trinh.”
- “Sáu Trên, mê muội cùng cực lại cứ muốn lên cao, lợi về sự giữ vững chính bền không ngừng nghỉ.”
- Tượng “Minh thăng tai thượng, tiêu bất phú dã.” – Mê muội cùng cực lại vẫn cứ muốn lên cao, nói lên xu thế phát triển của Sáu Trên tất sẽ tiêu mòn, không thể giầu thịnh.

48. Tân Hợi – Thiên Lôi Vô vọng, hào 2
- “Lục Nhị, bất canh hoạch, bất tri dư, tắc lợi hữu du vãng.”
- “Sáu Hai, không cầy và làm cỏ thì không được thu hoạch; không khai khẩn thì không có được ruộng tốt, như vậy lợi về có sự đi.”
- Tượng “Bất canh hoạch, vị phú dã.” – Không cầy và làm cỏ thì không được thu hoạch, nói lên ý Sáu Hai chưa từng mưu cầu sự giầu sang phú quý.

49. Nhâm Tý – Phong Địa Quán, hào 1 (49 ~ 1)
- “Sơ Lục, đồng quán, tiểu nhân vô cữu, quân tử lận.”
- “Sáu Đầu, như trẻ nhỏ ngẩng trông cảnh vật, tiểu nhân không nguy hại gì, quân tử tất có hối tiếc.”
- Tượng “Sơ Lục đồng quán, tiểu nhân đạo dã.” – Như trẻ nhỏ ngẩng trông cảnh vật, đây là cái lẽ sự hiểu biết nông cạn của kẻ tiểu nhân.

50. Quý Sửu – Lôi Thiên Đại tráng, hào 4 (50 ~ 2)
- “Cửu Tứ, trinh cát, hối vong ; phiên quyết bất luy, tráng vu đại dư chi phúc.”
- “Chín Bốn, giữ vững chính bền thì được tốt lành, sự hối hận tất sẽ mất hết ; cũng như phên giậu dễ bị bật tung nên sừng dê không bị mắc vào nữa, như cỗ xe lớn trục xe vững vàng.”
- Tượng “Phiên quyết bất luy, thượng vãng dã.” – Phên giậu đã bị bật tung nên sừng không bị mắc vào nữa, nói lên Chín Bốn lợi về sự đi.

51. Giáp Dần – Phong Địa Quán, hào 2 (51 ~ 39)
- “Lục Nhị, khuy quán, lợi nữ trinh.”
- “Sáu Hai, lén ngẩng trông cảnh vật đẹp thịnh, lợi cho người con gái giữ vững chính bền.”
- Tượng “Khuy quán nữ trinh, diệc khả xú dã.” – Lén ngẩng trông cảnh vật đẹp thịnh, lợi cho người con gái, còn đối với người con trai mà nói là đáng xấu hổ vậy.

52. Ất Mão – Lôi Thiên Đại tráng, hào 3 (52 ~ 40)
- “Cửu Tam, tiểu nhân dụng tráng, quân tử dụng võng ; trinh lệ, đê dương xúc phiên, luy kỳ giác.”
- “Chín Ba, kẻ tiểu nhân dùng bừa sức mạnh, quân tử tuy mạnh nhưng không thế ; giữ vững chính để phòng nguy hiểm, nếu như con dê lớn mà húc mạnh vào giậu thì tất bị mắc sừng.”
- Tượng “Tiểu nhân dụng tráng, quân tử võng dã.” - Tiểu nhân dùng bừa sức mạnh, người quân tử tuy mạnh nhưng không thế.

53. Bính Thìn - Hỏa Trạch Khuê, hào 1
- “Sơ Cửu, hối vong ; táng mã, vật trục tự phục ; kiến ác nhân, vô cữu.”
- “Chín Đầu, hối hận tiêu vong, ngựa chạy mất, chớ đuổi theo, bình tĩnh chờ nó tự trở về, khiêm tốn tiếp kẻ ác đối lập với mình, không bị cữu hại.”
- Tượng “Kiến ác nhân, dĩ tị cữu dã.” – Khiêm tốn tiếp kẻ ác đối lập với mình, là để tránh sự cữu hại do sự trái lìa gây nên.

54. Đinh Tị - Thủy Sơn Kiển, hào 1
- “Sơ Lục, vãng kiển, lai dự.”
- “Sáu Đầu, tiến lên thì gian nan, trở lại ắt được khen.”
- Tượng “Vãng kiển lai dự, nghi đãi dã.” - Tiến lên thì gian nan, trở lại thì được khen, nếu nói như vậy thì Sáu Đầu nên chờ đợi thời cơ.

55. Mậu Ngọ - Trạch Hỏa Cách, hào 3
- “Cửu Tam, chinh hung, trinh lệ ; cách ngôn tam tựu, hữu phu.”
- “Chín Ba, gấp vội cầu tiến tất sinh “hung”, giữ chính phòng nguy hiểm ; khi biến cách bước đầu đã thành hiệu cần phải nhiều lần đi xuống làm theo lòng dân, yên định đại cục, xử sự phải giữ lòng thành tín.”
- Tượng “Cách ngôn tam tựu, hựu hà chi hỹ.” – Khi sự biến cách bước đầu đã thành hiệu, nói lên tại thời điểm này, Chín Ba hà tất phải quá vội vàng đi lên !

56. Kỷ Mùi – Sơn Thủy Mông, hào 5
- “Lục Ngũ, đồng mông, cát.”
- “Sáu Năm, trẻ nhỏ chưa biết gì, chính thế lại dễ dạy, tốt lành.”
- Tượng “Đồng mông chi cát, thuận dĩ tốn dã.” - Trẻ nhỏ chưa biết gì, nói lên Sáu Năm cung kính, nhu thuận, khiêm tốn với thầy dạy.

57. Canh Thân - Địa Phong Thăng, hào 5
- “Lục Ngũ, trinh cát, thăng giai.”
- “Sáu Năm, giữ vững chính bền thì tốt lành, giống như cứ từng bậc một mà lên cao.”
- Tượng “Trinh cát thăng giai, đại đắc chí dã.” - Từng bậc một mà tiến lên cao, nói lên Sáu Năm đã hết sức toại nguyện với tâm chí lên cao của bản thân.

58. Tân Dậu – Thiên Lôi Vô vọng, hào 3
- “Lục Tam, vô vọng chi tai: hoặc hệ chi ngưu, hành nhân chi đắc, ấp nhân chi tai.”
- “Sáu Ba, không làm càn mà bị tai ương: ví như có người buộc một con trâu, người đi đường dắt về làm của mình, người trong ấp bị nghi oan là bắt trộm.”
- Tượng “Hành nhân đắc ngưu, ấp nhân tai dã.” - Người đi đường thuận tay dắt và lấy mất trâu đi, nói lên người trong Ấp tự nhiên bị tai bay vạ gió, bị đổ tội nghi là lấy cắp trâu.

59. Nhâm Tuất – Phong Địa Quán, hào 6 (59 ~ 11)
- “Thượng Cửu, quán kỳ sinh, quân tử vô cữu.”
- “Chín Trên, mọi người đều ngẩng trông mọi hành vi của nó, người quân tử tất vô cữu hại.”
- Tượng “Quán kỳ sinh, chí vị bình dã.” - Mọi người đều ngẩng trông mọi hành vi của nó, nói lên tâm chí sửa đức của Chín Trên chưa thể yên vui thư thái được.

60. Quý Hợi – Lôi Thiên Đại tráng, hào 5 (60 ~ 12)
- “Lục Ngũ, táng dương vu dị, vô hối.”
- “Sáu Năm, mất dê ở bờ ruộng, không có gì hối hận.”
- Tượng “Táng dương vu dị, vị bất đáng dã.” - Mất dê ở bờ ruộng, nói lên ngôi của Sáu Năm không thích đáng.