Bài 105

TẠP-QUÁI-TRUYỆN

Cấu-trúc cuả Tạp-Quái-Truyện đã được duyệt kỹ trong hai bài 96 và 97. Hay ho nhất là cắt nghiã tại sao tám quẻ cuối truyện (Đại-quá, Cấu, Tiệm, Di, Ký-tế, Quy-muội, Vi-tế, Quyết) lại không phản-đối từng đôi một. Dưới đây là bổ-túc bằng Tân-toán-học.

GS Daniel Goldenberg đã chứng-minh rằng nhóm 64 biệt-quái với phép toán 2-chu-kỳ (hào chi giữa hai hào lân-cận = 2-cycle), là một nhóm phi-abel (non-abelian group). Tính phi-abel là hệ-quả hiển-nhiên cuả kết-hợp giữa 2-chu-kỳ. Tuy nhiên, nếu ta dùng liệt-kê mật-mã Gray (Xem bên dưới), nhóm phi-Abel này sẽ trở thành nhóm Abel, bởi vì với bất kỳ ba 2-chu-kỳ liên-tiếp nào, phép cộng đẳng-thặng 2 sẽ giao-hoán.

Nhờ Định-lý khổng-lồ cuả toán-thuyết về nhóm, nhóm phi-Abel này nghiễm-nhiên là nhóm giản-dị hữu-hạn xưa nhất thế-giới. Định-lý căn-bản Đại-số Chu-dịch (Định-lý 7) bảo rằng: "Với bất kỳ một cặp biệt-quái nào ta cũng tìm ra được một biệt-quái thứ ba duy nhất, mệnh-danh là biệt-quái trung-gian, biến đổi một biệt-quá trong cặp thành biệt-quái kia trong cặp qua phép cộng hay phép trừ đẳng-thặng 2". Tỷ như trong thí-dụ sau đây:

001011 (Tiệm u) 100001 (Di v[)

+ 100001 (Di v[) + 110100 (Quy-muội v)

101010 (Ký-tế ) 010101 (Vị-tế )

On the abstract level, professor Goldenberg showed that the group of 64 hexagrams of the Chouyi (R34, p. 149-51), under the binary operation of 2-cycle (permutation of 2 contiguous hsiaos or hsiao swap or bits swap) is a non-abelian group, i.e. satisfying closure, associativity, identity element, and inverse. The non-abelian property is obvious because of the order of composition of the 2-cycles.

However, if we use the Gray Code Sequencing (cf. Chapter Five, § 2.7), the group becomes abelian, because for any three successive 2-cycles the addition or the substraction modulo 2 is commutative. Check!

Thanks to the Enormous Theorem in Group Theory (R36), this non-abelian group constitutes the oldest simple finite group of the World. The Goldenberg’s fundamental theorem of the Algebra of the Chouyi (R34, pp.163-4) reads: “For any hexagram-pair, there exists a third, unique, mediating hexagram which transforms either member of the pair into the other under addition or substraction (modulo-difference which is knowingly also the modulo-sum alias XOR of Computerese). E.g.,

001011 Chien Tiệm (H53) 100001 I Di (H27)

+ 100001 I Di (H27) + 110100 Kuei-Mei Quy-muội (H54)

101010 Chi Chi Ký-tế (H63) 010101 Wei Chi lang="ZH-CN" > 未 Vị-tế (H64)

R34 Goldenberg, D.S, The Algebra of the Chouyi and its Philosophical Implications, Journal of Chinese Philosophy 2 (1975), 149-76.

R36 Gorenstein, D., The Enormous Theorem, Sci. Am., Vol. 253, Nr. 6, Dec. 1985.

The GRAY CODE ARRANGEMENT

The Gray code is an encoding of unsigned binaries so that adjacent binaries have a single bit different by 1. Usually it is called binary reflected Gray code for it can be generated as follows. Take the gray code 0, 1. Write it forwards then backwards 0, 1, 1, 0. Then prepend 0s to the first half and 1s to the second half: 00, 01, 11, 10, 10, 11, 01, 00 and so on. Each iteration doubles the number of codes. From the five successive iterations we get the 2, 3, 4, 5, 6-bit Gray code which represent successively the Di-, Tri-, Tetra-, Penta- and Hexagrams.

The following tables are sort of bootstrap to § 2.7 below.

Table 2.5.1 Table 2.5.2 Table 2.5.3 Table 2.5.4

2-bit Gray code 3-bit Gray code 4-bit Gray code 5-bit Gray code

0 00 00 000 0000 0000 00000

1 01 01 001 0001 0001 00001

1 11 11 011 0011 0011 00011

0 10 10 010 0010 0010 00010

10 110 0110 0110 00110

11 111 0111 0111 00111

01 101 0101 0101 00101

00 100 0100 0100 00100

1100 1100 01100

1101 1101 01101

1111 1111 01111

1110 1110 01110

1010 1010 01010

1011 1011 01011

1001 1001 01001

1000 1000 01000

11000

11001

11011

11010

11110

11111

11101

11100

10100

10101

10111

10110

10010

10011

10001

10000

Table 2.3 The 2, 3, 4, 5-bit Gray Code’s Arrangement

Table 2.5.4 Table 2.5.5

5-bit Gray code 6-bit Gray code

00000 000000 Khôn K’un

00001 000001 Bác Po

00011 000011 Quan Kuan

00010 000010 Tỷ Pi

00110 000110 Tụy Ts’ui

00111 000111 Bĩ P’i

00101 000101 Tấn Chin

00100 000100 Dự Yü

01100 001100 Tiểu-quá Hsiao Kuo

01101 001101 Lữ Lü

01111 001111 Độn Tun

01110 001110 Hàm Hsien

01010 001010 Kiển Chien

01011 001011 Tiệm Chien

01001 001001 Cấn Kên

01000 001000 Khiêm Ch’ien

11000 011000 Thăng Shêng

11001 011001 Cổ Ku

11011 011011 Tốn Sun

11010 011010 Tỉnh Ching

11110 011110 Đại-quá Ta Kuo

11111 011111 Cấu Kou

11101 011101 Đỉnh Ting

11100 011100 Hằng Hêng

10100 010100 Giải Hsieh

10101 010101 Vị-tế Wei Chi

10111 010111 Tụng Sung

10110 010110 Khốn K’un

10010 010010 Khảm K’an

10011 010011 Hoán Huan

10001 010001 Mông Mêng

10000 010000 Sư Shih

110000 Lâm Lin

110001 Tổn Sun

110011 Trung-phu Chung Fu

110010 Tiết Chieh

110110 Đoài Tui

110111 Lý Lü

110101 Khuể K’uei

110100 Quy-muội Kuei Mei

111100 Đại-tráng Ta Chuang

111101 Đại-hữu Ta Yu

111111 Kiền Ch’ien

111110 Quyết Kuai

111010 Nhu Hsü

111011 Tiểu-súc Hsiao Ch’u

111001 Đại-súc Ta Ch’u

111000 Thái T’ai

101000 Minh-di Minh I

101001 Bí Pi

101011 Gia-nhân Chia Jên

101010 Ký-tế Chi Chi

101110 Cách Ko

101111 Đồng-nhân T’ung Jên

101101 Ly Li

101100 Phong Fêng

100100 Chấn Chên

100101 Phệ-hạp Shih Ho

100111 Vô-võng Wu Wang

100110 Tùy Sui

100010 Truân Chun

100011 Ích I (I4)

100001 Di I (Yi1)

100000 Phục Fu


Table 2.4 The 5-bit and 6-bit Gray Code’s Arrangement



Người phụ nữ cứu triệu mạng sống từ thảo dược Trung Hoa

Đó là Youyou Tu, người đã chuyển đổi phương pháp chữa trị của người Trung Hoa cổ xưa thành thuốc chống sốt rét mạnh nhất đang có hiện nay, cứu được hàng triệu mạng sống trên khắp toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển.

Hơn 40 năm trước, giữa những biến động và xáo trộn của Cuộc cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc và cả cuộc chiến tranh Việt Nam, hàng trăm nhà khoa học Trung Quốc đã nung nấu nỗ lực đầy tham vọng, đó là tìm được một loại thuốc có thể chế ngự được bệnh sốt rét. Kết quả là họ đã phát hiện ra artemisinin, một hợp chất được tìm thấy trong thảo dược, mà cùng với các dẫn xuất của nó, hiện đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới để điều trị sốt rét.


Công trình do các nhà khoa học Trung Quốc nghiên cứu đã chuyển đổi phương pháp chữa trị bệnh sốt rét từ kiến thức truyền thống sang liệu pháp y học hiện đại.


Tháng 9 vừa qua, Giải thưởng Lasker danh giá đã thuộc về Youyou Tu, nhà khoa học 81 tuổi người Trung Quốc, người đã đóng vai trò lớn trong việc phát hiện ra hợp chất trên.


Giáo sư Tu đã dẫn đầu nhóm “chuyển đổi phương pháp chữa trị của người Trung Hoa cổ xưa thành thuốc chống sốt rét mạnh nhất đang có hiện nay”, Quỹ Lasker, có trụ sở tại Mỹ, đánh giá khi công nhận công trình của bà với Giải thưởng nghiên cứu y học lâm sàngLasker-DeBakey. Theo quỹ Lasker, hàng triệu mạng sống khắp toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, đã được cứu sống.


Dự án mật 523


Giữa cuộc chiến tranh Việt Nam, một cuộc chiến khốc liệt khác cũng song hành, đó là chiến đấu với Plasmodium falciparum, ký sinh trùng gớm ghiếc nhất gây bệnh sốt rét bởi chúng kháng được cả thuốc chloroquine. Mỹ đã đưa ra một loại thuốc khác để tiêu diệt ký sinh trùng này trong cơ thể, thuốc mefloquine. Còn miền bắc Việt Nam lúc bấy giờ đã nhờ Trung Quốc giúp đỡ chiến đấu với căn bệnh.


Theo tiết lộ trong một bài báo gần đây trên tạp chí Cell (Tế bào) của hai nhà khoa học Louis H. Miller và Xinzhuan Su, thuộc Viện Dị ứng và các bệnh lây nhiễm quốc gia Mỹ, theo chỉ thị của Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai, chính phủ Trung Quốc đã triệu tập một cuộc họp ở Bắc Kinh vào ngày 23/5/1967 để thảo luận về vấn đề. Một chương trình bí mật, được biết đến với tên gọi Dự án 523, sau đó được phát động, với sự tham gia của hơn 500 nhà khoa học từ khoảng 60 phòng thí nghiệm khác nhau.


Khi dự án được xem là bí mật quân sự, không có liên lạc nào về công trình nghiên cứu với thế giới bên ngoài được phép.


Bắt đầu từ “vườn thảo dược”


Giáo sư Tu sau đó là nhà nghiên cứu chính của Viện dược vật học Trung Hoa thuộc Học viện khoa học Đông y cổ truyền Trung Quốc (CACMS) tại Bắc Kinh.


“Viện của tôi nhanh chóng bắt tay vào dự án và bổ nhiệm tôi đứng đầu một nhóm nghiên cứu bệnh sốt rét”, bà nhớ lại trong bài bình luận được đăng tải gần đây trên tạp chí Y học tự nhiên (Nature Medicine). “Nhóm những nhà nghiên cứu trẻ của chúng tôi bắt đầu nghiên cứu tài liệu liên quan đến các hoạt chất chống lại bệnh sốt rét trong các nguyên liệu thảo dược của Trung Quốc”.


Giáo sư Tu và các đồng nghiệp bắt đầu tìm kiếm sách về thuốc truyền thống của Trung Hoa, rà soát các cuốn sách cổ và cả các cách chữa trị dân gian. Họ phát hiện ra hơn 2000 bài thuốc thảo dược Trung Hoa, trong đó 640 bài có vẻ đầy hứa hẹn. Trong số này, khoảng 380 chiết xuất liên quan đến khoảng 200 thảo dược được chọn để thử nghiệm trên chuột.


Thật không may, “tiến trình không diễn ra suôn sẻ và không có kết quả quan trọng nào xuất hiện một cách dễ dàng”, bà viết trong bài báo.


Thời khắc quyết định đến khi chiết xuất từ một loại cây mà người Trung Quốc gọi là qinghao (cây thanh hao) “cho thấy mức độ ngăn chặn sự phát triển của ký sinh trùng đầy hứa hẹn”.


Nhưng các cuộc thử nghiệm sau đó đều kết thúc với mức độ ngăn chặn thấp hơn nhiều. Giáo sư Tu đi đến kết luận rằng, có thể vấn đề nằm ở việc chiết xuất hoạt chất. Bà đã tìm thấy manh mối trong một cuốn sách cổ Sổ tay kê thuốc cho chữa trị khẩn cấp của Ge Hong, có từ khoảng 1.700 năm trước.


Cuốn sổ tay gợi ý ngâm qinghao vào trong nước, rồi sau đó vắt nước uống. “Câu này đã đưa cho tôi ý tưởng rằng làm nóng trong bước chiết xuất truyền thống mà chúng tôi đã thực hiện có thể đã phá hủy các hoạt chất và rằng việc chiết xuất ở nhiệt độ thấp có thể là cần thiết để bảo quản hoạt chất chống sốt rét”, giáo sư Tu cho hay. Cuối cùng họ đã chuyển sang phương thức chiết xuất ở nhiệt độ thấp hơn.


Mặc dù vậy, theo tiến sỹ Miller và tiến sỹ Su kể trong bài báo của họ, chất chiết xuất được vẫn còn độc, cần phải tinh lọc để loại một phần chất axit không có hoạt chất chống sốt rét. Chiết xuất trung tính còn lại, được dán nhãn là “chiết xuất số 191” có thể loại bỏ hoàn toàn ký sinh trùng khi thử nghiệm trên chuột và khỉ.


Giáo sư Tu đã trình bày công trình tại cuộc họp của Dự án 523 tại Nam Kinh vào tháng 3/1972. Cũng năm này, nhóm của bà xác đinh “một chất không màu, trong như pha lê” là hợp chất hóa học có hiệu quả. Họ gọi đó là Qinghaosu, có nghĩa là “yếu tố cơ bản” trong qinghao. Thế giới sau này gọi đó là artemisinin.


Đến đích đầy chông gai


Sử dụng thông tin giáo sư Tu cung cấp, hai nhóm, một của Viện nghiên cứu thuốc Yunnan và một ở Viện nghiên cứu thuốc truyền thống Sơn Đông, đã có thể tách tinh thể của hợp chất. Các nhà khoa học Trung Quốc xác định được cấu trúc tinh thể 3 chiều của nó vào năm 1975 và công bố dữ liệu 2 năm sau đấy. Bước đầu tiên trong thử nghiệm lâm sàng là xác định độ an toàn của loại thuốc mới. Do không được thực hiện thử nghiệm như vậy trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, giáo sư Tu và đồng nghiệp đã lấy chiết xuất từ cây để chứng minh thuốc có thể phân phối an toàn.


Khi chiết xuất từ cây được thử nghiệm trên bệnh nhân sốt rét tải tỉnh Hải Nam, kết quả mĩ mãn. Những người được điều trị chiết xuất từ cây khỏe nhanh hơn trong khi những người được điều trị chloroquine không khỏe lên.


Theo tiến sỹ Miller và Su, Guoqiao Li, thuộc Đại học thuốc truyền thống Quảng Châu đã thực hiện thử nghiệm trên bệnh nhân, dùng mẫu artemisinin đã được tinh chế. Những nghiên cứu này lần đầu tiên cho thấy kết hợp liệu pháp dùng artemisinin và thuốc chống sốt rét khác sẽ ngăn bệnh tái phát và tăng đề kháng.


“Artemisinin có tác dụng nhanh chóng trong vòng vài giờ”, họ cho biết. Nhưng lượng artemisinin trong cơ thể giảm nhanh chóng, vì vậy cần phải điều trị cùng với một loại thuốc khác để chữa được bệnh.


Chỉ đến tháng 12/1979, bài báo tiếng Anh đầu tiên về Qinghaosu được đăng tải, thu hút được sự quan tâm lớn của quốc tế lúc bấy giờ. Và đến thời điểm đó, thuốc đã được thử nghiệm thành công trên 2.000 người.


Tháng 10/1981, hội thảo do Liên hợp quốc tài trợ về hóa học trị liệu bệnh sốt rét đã được tổ chức tại Bắc Kinh. Khi được mời lên phát biểu, giáo sư Tu đã trình bày báo cáo về “Những nghiên cứu đối với Qinghaosu”.


Báo cáo của giáo sư Tu không chỉ nói về artemisinin mà còn về một số dẫn xuất thậm chí còn mạnh hơn của nó. Quỹ Lasker nhấn mạnh, trong các nghiên cứu cấu trúc của mình, giáo sư Tu đã thay đổi cấu trúc hóa học của artemisinin để tạo ra hợp chất có tác dụng mạnh gấp 10 lần và giảm được nguy cơ tái phát bệnh. Hợp chất này là cơ sở cho việc sản xuất những loại thuốc chiết xuất artemisinin khác. Những dẫn xuất này cũng có khuynh hướng ở lâu hơn trong cơ thể và là trung tâm của các liệu pháp ngày nay.

Trong bài báo của mình trên tạp chí Nature Medicine, giáo sư Tu nhấn mạnh “tính hiệu quả của artemisinin và các dẫn xuất của nó trong điều trị hàng ngàn bệnh nhân bị sốt rét ở Trung Quốc đã thu hút được sự quan tâm trên khắp thế giới vào những năm 1980”.


Công trình do các nhà khoa học Trung Quốc nghiên cứu đã làm thay đổi cách chữa trị bệnh sốt rét. Theo tổ chức Y tế Thế giới, số khóa học về liệu pháp kết hợp dựa trên artemisinin tăng mạnh từ 11,2 triệu năm 2005 lên 76 triệu vào năm sau đó và đạt 158 triệu cho tới năm 2009.


“Giáo sư Tu đã là người tiên phong trong cách tiếp cận mới chữa trị bệnh sốt rét, chữa trị cho hàng trăm triệu người và còn nhiều hơn thế nữa”, Quỹ Lasker nhận định. “Bằng cách áp dụng những kỹ thuật hiện đại cùng di sản của những thầy thuốc Trung Hoa để lại trong suốt 5.000 năm, bà đã chuyển được những tinh hoa của nó vào thế kỷ 21”.






http://dantri.com.vn/c36/s36-524596/nguoi-phu-nu-cuu-trieu-mang-song-tu-thao-duoc-trung-hoa.htm

Sáng sớm: Thời điểm hạnh phúc nhất của con người



Theo các nhà khoa học Mỹ, sáng sớm là thời điểm mọi người thường cảm thấy hạnh phúc nhất trong ngày.


Đây là kết quả nghiên cứu được các nhà khoa học Mỹ công bố ngày 29/9 sau khi phân tích hàng trăm triệu tin nhắn trên mạng Twitter - trang mạng có tốc độ cập nhật tin nhắn nhanh nhất trong các trang mạng xã hội hiện nay.

Trong hai năm, các nhà nghiên cứu xã hội học của trường Đại học Cornell đã sử dụng phần mềm ngôn ngữ để tìm ra những từ ngữ biểu lộ tâm trạng vui vẻ trong 509 triệu tin nhắn bằng tiếng Anh của 2,4 triệu người sử dụng trang mạng Twitter ở 84 nước trên thế giới.

Kết quả cho thấy con người thường đạt tâm trạng vui vẻ nhất vào sáng sớm và bắt đầu giảm dần vào giữa buổi sáng, thời điểm phần lớn mọi người bắt đầu công việc thường ngày của mình.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng con người còn có cảm giác hạnh phúc vào khoảng nửa đêm khi những tâm trạng như buồn bực, sợ hãi, tức giận, chán ghét hay tội lỗi thường có xu hướng giảm đột ngột.

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy tần số xuất hiện những từ ngữ thể hiện tâm trạng vui vẻ, hạnh phúc thường xuất hiện vào những ngày nghỉ cuối tuần, thời điểm mọi người ít phải chịu áp lực từ công việc, không phải dậy sớm./.


Mẹ tôi






Cảnh sát và bà già.




Bàn về thế giới đương đại

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nguy cơ sa vào “vùng nguy hiểm”, Tamnhin.net xin giới thiệu ý kiến của hai học giả có tên tuổi nói về thế giới đương đại.
Tạo của cải cho số ít là thiếu văn minh
Theo Giáo sư Tim Jackson, tác giả cuốn “Giàu có không bao hàm tăng trưởng...”, trong vòng 50 năm qua, việc theo đuổi tăng trưởng đã trở thành mục tiêu về chính sách quan trọng duy nhất tại nhiều nơi trên thế giới.
Nền kinh tế toàn cầu giờ đây đã lớn gấp 5 lần so với nửa thế kỷ trước. Cứ đà tăng trưởng này, đến năm 2100 nó sẽ lớn gấp 80 lần.
Hoạt động kinh tế toàn cầu sôi động một cách lạ thường, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Nó hoàn toàn không tương thích với nguồn tài nguyên có hạn và hệ sinh thái mong manh trên trái đất. Kèm theo đà tăng trưởng này là sự xuống cấp của khoảng 60% hệ sinh thái toàn cầu.
Xem ra, người ta vẫn lảng tránh những con số gây sốc này. Những lý do để nhắm mắt làm ngơ là điều dễ thấy.
Chủ nghĩa tư bản Phương Tây được cấu trúc dựa trên tăng trưởng để đảm bảo ổn định. Khi tăng trưởng bị chững lại như thời gian gần đây, giới chính khách bị hoang mang. Các doanh nghiệp chật vật tồn tại. Nhiều người mất việc và đôi khi cũng mất cả nhà. Vòng xoáy suy thoái dần dần hé lộ.
Chất vấn tăng trưởng được coi là hành động của những kẻ mất trí, nhưng người ta vẫn phải xem xét vấn đề này.
Tăng trưởng đã chẳng giúp được gì cho hai tỷ người chỉ sống với dưới 2 USD một ngày.
Nó đã làm đổ vỡ hệ sinh thái mong manh mà ta vẫn phụ thuộc vào để tồn tại. Nó đã thất bại... trong nỗ lực tạo ra một nền kinh tế ổn định và đảm bảo cuộc sống mọi người.
Tạo của cải cho số ít cá nhân, dựa trên sự phá hủy hệ sinh thái và bất công xã hội triền miên... không thể là nền tảng của một xã hội văn minh.
Khủng hoảng kinh tế mang lại một cơ hội đặc biệt để đầu tư vào sự thay đổi, để loại bỏ tư duy thiển cận từng làm hoen ố xã hội suốt bao năm qua và để tiến hành đại tu tận gốc các thị trường tư bản vốn hoạt động yếu kém. Cách đây ba năm, tình trạng đầu cơ vô độ về hàng hóa và các sản phẩm tài chính đưa thế giới tài chính đến bờ vực sụp đổ.
Đầu tư vững chắc vào tài sản có giá trị lâu dài; đầu tư vào công nghệ sạch với hàm lượng cácbon thấp; vào y tế và giáo dục; vào nhà cửa chất lượng tốt và hệ thống giao thông hiệu quả; vào các khu nhà công và không gian mở. Đó chính là đầu tư vào tương lai của cộng đồng.
Đã tới lúc cần phải đại tu các doanh nghiệp. Kiếm lời một cách tàn nhẫn từ tiền thuế của người dân là vô đạo đức. Bàn tay vô hình của thị trường phải được thuần hóa để phục vụ mọi người.
Những chủ tịch tập đoàn biết nhìn xa trông rộng đã hiểu được những đòi hỏi này.
Cần phải đối diện với cái “logic cuộn thừng” của chủ nghĩa tiêu dùng. Đã qua rồi cái thời mà người ta tiêu tiền vay mượn vào những thứ không thiết và chỉ cốt để khiến người khác phải trầm trồ thán phục.

Tăng trưởng quá nhanh “dễ gây tai nạn”
Trong khi đó học giả Chandran Nair, người sáng lập Global Institute For Tomorrow, cho rằng hình thái cực đoan của chủ nghĩa tư bản đã lan rộng khắp thế giới, nhất là trong khoảng 30-40 năm gần đây, và hiện đang gặp phải nhiều rắc rối.
Điều quan trọng là hiểu được hai nguyên tắc chính của chủ nghĩa tư bản. Thứ nhất việc coi con người hành xử có lý và rằng thị trường phản ứng có lý là sai. Và nguyên tắc thứ hai coi thị trường định đoạt giá cả cũng sai nốt.
Có thể tranh luận rằng chiếm hữu nô lệ là nỗ lực đầu tiên cho việc sở hữu tài nguyên một cách rẻ mạt. Khi chế độ chiếm hữu nô lệ kết thúc, thế giới lại có chế độ thuộc địa. Đây là nỗ lực điển hình của chủ nghĩa tư bản để sử dụng tài nguyên rẻ mạt. Khi chế độ thuộc địa đổ vỡ, thế giới lại có toàn cầu hóa tăng trưởng kinh tế và rồi toàn cầu hóa tài chính.
Điều cần thừa nhận lúc này là thế giới đang ở một ngưỡng rất khác so với 100 năm trước, khi nhân loại chỉ có một tỉ người. Với dân số hiện đang tiến tới con số 7 tỉ, rất nhiều thứ cần phải thay đổi.
Hai vấn đề cơ bản nhất mà chủ nghĩa tư bản Phương Tây vốn vẫn lờ đi là hàng hóa và dịch vụ mà các công ty và các nền kinh tế vẫn sản sinh đều dựa trên tài nguyên rẻ mạt và những chi phí không hiện hữu.
Trò chơi này đã đến hồi kết, thế giới cần phải tái cấu trúc cơ bản và cần có những bước tiến vượt lên trên quan niệm đơn thuần về tăng trưởng để tham gia vào các cuộc tranh luận sâu xa hơn về tiến bộ nhân loại.
Đó là điều không thể và đây chính là nơi cỗ xe chủ nghĩa tư bản đụng phải bức tường.

http://tamnhin.net/Diendan/14789/Ban-ve-the-gioi-duong-dai.html


Bằng chứng về linh hồn dưới góc nhìn khoa học

Các nhà khoa học ngày càng thu thập được nhiều bằng chứng về linh hồn và cuộc sống sau cái chết. Nhưng những bằng chứng này có thể chẳng bao giờ đủ để khẳng định linh hồn thực sự tồn tại.
Bên ngoài bộ não

Theo GS Bruce Greyson, trưởng khoa Nghiên cứu tri giác (DOPS) thuộc Đại học Hệ thống Y tế Virginia (Mỹ), trải nghiệm cận tử xảy ra ở 10% bệnh nhân ngừng tim. Khi tỉnh lại, người bệnh có thể mô tả chính xác mọi hoạt động xung quanh khi họ bất tỉnh. Điều đáng nói là trong nhiều trường hợp trải nghiệm cận tử, điện não đồ và các bằng chứng y khoa khác cho thấy, não bệnh nhân không còn dấu hiệu hoạt động khi hiện tượng này diễn ra.

Ông Pim van Lommel, chuyên gia về trải nghiệm cận tử tại Bệnh viện Rijnstate (Hà Lan) đồng tình về vấn đề này. Ông cho rằng, khi ở trạng thái cận tử, "người bệnh không những có ý thức, mà ý thức của họ còn mở rộng hơn bao giờ hết. Họ có thể suy nghĩ hết sức rõ ràng, hồi tưởng chi tiết về thời thơ ấu và cảm thấy sự liên hệ chặt chẽ với tất cả mọi người, mọi vật xung quanh. Trong khi não họ hoàn toàn không có dấu hiệu hoạt động".

Theo GS Peter Fenwick, Viện Tâm thần học thuộc Đại học Kings (Anh): "Nếu có thể chứng minh rằng con người vẫn tiếp nhận thông tin khi họ bất tỉnh và thoát xác thì đó là bằng chứng không thể tranh cãi về việc ý thức tồn tại tách rời bộ não".

Có lẽ, ý tưởng về linh hồn cũng xuất phát từ hoàn cảnh này. Con người từ thời cổ xưa, khi trải qua trạng thái ảo thân, cho rằng khi đó phần tinh thần rời khỏi phần thể xác. Từ đó, họ bắt đầu tin vào sự tồn tại bên ngoài cơ thể.

Linh hồn ra đời từ đâu?

Bằng chứng khoa học đáng ngạc nhiên nhất về linh hồn xuất phát từ lĩnh vực cơ học lượng tử, hay nói cụ thể hơn là từ những nghiên cứu về các hiện tượng hạ nguyên tử tạo ra ý thức. Quan điểm truyền thống cho rằng, ý thức của chúng ta được hình thành từ mạng lưới hàng tỷ nơron. Nhưng hai giáo sư Stuart Hameroff (Đại học Arizona, Mỹ - ảnh) và Roger Penrose (Đại học Oxford, Anh) đã xây dựng một lý thuyết, theo đó, ý thức còn là sản phẩm của quá trình tính toán lượng tử diễn ra ở vi ống, một dạng cấu trúc siêu nhỏ của tế bào não.

Trước đây, nhiều người cho rằng một cơ chế như vậy không thể tồn tại, vì các máy tính lượng tử được tạo ra ban đầu chỉ có thể hoạt động ở môi trường vô cùng lạnh chứ không phải ở mức nhiệt độ cao như ở não. Tuy nhiên, những nghiên cứu trong 5 năm gần đây cho thấy, cơ học lượng tử tham gia vào khá nhiều quá trình sinh học không lạnh, trong đó có quang hợp.

Một công trình của Anirban Bandyopadhyay (Viện Khoa học Vật liệu Quốc gia Nhật Bản) còn hé mở khả năng các bit thông tin lượng tử có thể gắn kết trong môi trường nhiệt độ cao của các vi ống đơn lẻ ở tế bào.

Trạng thái gắn kết giữa các vi ống được tạo ra nhờ năng lượng sinh học. Khi quá trình cung cấp máu và oxy ngừng lại, sự gắn kết không còn, nhưng thông tin lượng tử không mất đi. Nó có thể phát tán vào vũ trụ, tồn tại và tiếp tục hoạt động dưới một hình thức nào đó. Nếu bệnh nhân được cứu sống, thông tin sẽ được não tiếp nhận trở lại. Có lẽ vì thế mà những người từng có trải nghiệm cận tử có thể nhận biết thế giới xung quanh khi họ bất tỉnh.

Nếu như giả thuyết này là đúng, thì câu hỏi đặt ra là: Quá trình lượng tử tạo thành ý thức xuất hiện từ đâu? Câu trả lời, theo GS Penrose và một số nhà khoa học, là từ vụ nổ lớn Big Bang. Theo quan điểm này, mọi dạng ý thức đều được tạo ra cùng thời điểm với vũ trụ. Và nếu linh hồn có tồn tại thì nó cũng gắn với khởi nguồn của vũ trụ.

Sự đầu thai của linh hồn

Ý tưởng của GS Penrose ám chỉ đến một cơ chế để ý thức tiếp tục tồn tại sau khi thân thể con người đã chết. Nhưng nó sẽ đi về đâu? Theo GS Hameroff: "Nếu người bệnh không được cứu sống, ý thức sẽ đi vào vũ trụ và biết đâu có thể một ngày nào đó sẽ được một cơ thể khác tiếp nhận trở lại".

DOPS hiện đang lưu giữ khoảng 1.400 hồ sơ về các trường hợp được cho là thuộc dạng này. Phần lớn đó đều là những đứa trẻ nhớ được tiền kiếp. Các em có thể kể vanh vách trước đây mình là ai, sống ở đâu, làm gì, trông như thế nào và nhiều chi tiết khác.

Ian Stevenson, một trong những chuyên gia tâm thần học hàng đầu nước Mỹ, người sáng lập DOPS bắt đầu thu thập những câu chuyện về tiền kiếp từ năm 1960. Trong số các tài liệu ông ghi nhận được, có nhiều trường hợp một đứa trẻ được sinh ra có bớt ở đúng vị trí vết thương mà các em đã bị trong kiếp trước. Một số luôn bị ám ảnh sợ những sự vật, hiện tượng đã gây ra cái chết trong tiền kiếp.

Stevenson và các đồng nghiệp của ông chưa bao giờ khẳng định rằng hiện tượng đầu thai thực sự xảy ra. Họ chỉ cố gắng thu thập các bằng chứng về nó. Trong khoa học, những bằng chứng này có thể chẳng bao giờ đủ để khẳng định linh hồn con người tồn tại sau cái chết về thân xác và sau đó tái sinh trở lại trong một cơ thể mới. Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta có thể khẳng định rằng không có linh hồn.

Theo Discover Popular Mechanics
http://bee.net.vn/channel/2981/201109/Thu-thap-bang-chung-ve-linh-hon-duoi-goc-nhin-khoa-hoc-1813352/



Bão từ vừa tấn công trái đất

      Một trận bão từ vừa quét qua địa cầu vào sáng sớm nay, nhưng không gây nên bất kỳ thiệt hại nào, Trung tâm Dự đoán Thời tiết Vũ trụ Mỹ (SWPC) thông báo.

      AP dẫn lời các nhà khoa học của SWPC cho hay trận bão từ đổ bộ xuống địa cầu vào lúc 17h30 GMT hôm 9/9 (2h30 ngày 10/9 theo giờ Việt Nam). Nó là hậu quả của một đợt bùng nổ trên tầng thượng quyển của mặt trời vào ngày 6/9. Do tác động của nó, các cực quang sẽ trở nên rõ hơn. 

      Cực quang xuất hiện do những hạt mang điện tích từ mặt trời lao vào bầu khí quyển trái đất với tốc độ cực lớn. Trong quá trình di chuyển, những hạt mang điện tích đâm vào các nguyên tử oxy và nitơ khiến mức năng lượng của chúng tăng lên. Kết quả là những nguyên tử nitơ và oxy phát ra ánh sáng nhiều màu sắc.

      Tuy nhiên, các nhà khoa học của SWPC khẳng định hiện tượng tê liệt của vệ tinh nhân tạo, lưới điện và hệ thống liên lạc radio sẽ không xảy ra sau khi bão từ ập xuống quả đất.

      Các vụ bùng nổ trong bầu khí quyển mặt trời xảy ra khi những đường từ trường đan xen lẫn nhau và tạo thành các “nút”. Sự hiện diện của những “nút” ấy khiến năng lượng tích tụ. Khi năng lượng đạt tới một mức nhất định, nó được chuyển hóa thành nhiệt, ánh sáng và chuyển động của các hạt mang điện tích.

      Trong những vụ nổ, mặt trời thường giải phóng một đám mây plasma (gồm những hạt electron và proton có năng lượng cao). Người ta gọi nó là gió mặt trời.

http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2011/09/bao-tu-vua-tan-cong-trai-dat/


Một vụ bùng nổ trên tầng thượng quyển của mặt trời. Ảnh: amateurastronomy.org
Một vụ bùng nổ trên tầng thượng quyển của mặt trời. Ảnh: amateurastronomy.org                       

Bài viết sưu tầm

Phạm Không vong thì không gặp thời.
Không - Kiếp là cặp âm dương Không - Vong.
Tuần chủ chú trọng, Triệt chủ coi khinh, Tuần chủ dấu cộng và Triệt chủ dấu trừ....
Cung Thân (mệnh) luôn hướng về một phương cố định trong vũ trụ.


Tên tỉnh thành Vị trí địa lý Chuyển Mức chênh so với giờ chuẩn GMT + 7 (tính theo phút) Giờ Tý chuẩn theo địa phương

An Giang 105° 10’ 105.17 0.66 22h59 - 0h59
Bà rịa VT 107°15’ 107.25 9.00 22h51 - 0h51
Bạc lieu 105°45’ 105.75 3.00 22h57 - 0h57
Bắc giang 106°20’ 106.33 5.33 22h55 - 0h55
Bắc Cạn 105°50’ 105.83 3.33 22h57 - 0h57
Bắc Ninh 106°10’ 106.17 4.66 22h55 - 0h55
Bến Tre 106°30’ 106.50 6.00 22h54 - 0h54
Bình Dương 106°40’ 106.67 6.66 22h53 - 0h53
Bình định 109°0’ 109.00 16.0 22h44 - 0h44
Bình Phước 106°55’ 106.92 7.66 22h52 - 0h52
Bình thuận 108°6' 108.10 12.4 22h48 - 0h48
Cà Mau 105°5' 105.08 0.33 22h59 - 0h59
Cần Thơ 105°47' 105.78 3.13 22h57 - 0h57
Cao Bằng 106° 106.00 4.00 22h56 - 0h56
Đà Nẵng 108°14' 108.23 12.93 22h47 - 0h47
Đắc Lắc 108°3' 108.05 12.20 22h48 - 0h48
Đắc Nông 107°42' 107.70 10.80 22h49 - 0h49
Điện Biên 103°1' 103.02 -7.93 22h08 - 1h08
Đồng Nai 107°11' 107.18 8.733 22h51 - 0h51
Đồng Tháp 105°40' 105.67 2.667 22h57 - 0h57
Gia Lai 108°15' 108.25 13.00 22h47 - 0h47
Hà Giang 105° 105.00 0.00 23h - 1h
Hà Nam 106° 106.00 4.00 22h56 - 0h56
Hà Nội 105°51' 105.85 3.40 22h57 - 0h57
Hà Tây 105°40' 105.67 2.66 22h57 - 0h57
Hà Tĩnh 105°54' 105.90 3.60 22h56 - 0h56
Hải Dương 106°20' 106.33 5.33 22h53 - 0h53
Hải Phòng 106°41' 106.68 6.73 22h54 - 0h54
Hậu Giang 105°28' 105.47 1.86 22h58 - 0h58
Hòa Bình 105°15' 105.25 1.00 22h59 - 0h59
Hưng Yên 106°5' 106.08 4.33 22h56 - 0h56
Khánh Hòa 109°12' 109.20 16.80 22h43 - 0h43
Kiên Giang 105°10' 105.17 0.66 22h59 - 0h59
Kon tum 107°55' 107.92 11.66 22h48 - 0h48
Lai châu 103° 103.00 -8.00 23h08 - 1h08
Lạng Sơn 106°*30′ 106.50 6.00 22h54 - 0h54
Lào Cai 104° 104.00 -4.00 23h04 - 1h04
Lâm Đồng 108°26' 108.43 13.73 22h46 - 0h46
Long An 106°10' 106.17 4.66 22h55 - 0h55
Nam Định 106°15' 106.25 5.00 22h55 - 0h55
Nghệ An 104°50' 104.83 -0.66 23h01 - 1h01
Ninh Bình 105°50' 105.83 3.33 22h57 - 0h57
Ninh Thuận 108°50' 108.83 15.33 22h45 - 0h45
Phú Thọ 105°10 105.17 0.66 22h59 - 0h59
Phú Yên 109°10' 109.17 16.66 22h43 - 0h43
Quảng Bình 106°20' 106.33 5.33 22h55 - 0h55
Quảng Nam 107°55' 107.92 11.66 22h48 - 0h48
Quảng Ngãi 108°40' 108.67 14.66 22h45 - 0h45
Quảng Ninh 107°20' 107.33 9.33 22h51 - 0h51
Quảng trị 107° 107.00 8.00 22h52 - 0h52
Sài Gòn 106°40' 106.67 6.66 22h53-0h53
Sóc Trăng 105°50' 105.83 3.33 22h57 - 0h57
Sơn La 104° 104.00 -4.00 23h04 - 1h04
Tây Ninh 106°10' 106.17 4.66 22h55 - 0h55
Thái Bình 106°20' 106.33 5.33 22h55 - 0h55
TháiNguyên 105°50' 105.83 3.33 23h57 - 0h57
Thanh Hóa 105°30' 105.50 2.00 22h58 - 0h58
TT Huế 107°35' 107.58 10.33 22h50 - 0h50
Tiền Giang 106°10' 106.17 4.66 22h55 - 0h55
Trà Vinh 106°15' 106.25 5.00 22h55 - 0h55
TuyênQuang105°15' 105.25 1.00 22h59 - 0h59
Vĩnh Long 106° 106.00 4.00 22h56 - 0h56
Vĩnh phúc 105°36' 105.60 2.40 22h58 - 0h58
Yên Bái 104°*40′ 104.67 -1.33 23h01 - 1h01


Trinh

      Từ thường dùng trong Lời quẻ và Lời hào của Dịch, nghĩa của từ này là "chính", bao hàm cả ý "trinh chính kiên cố" (giữ vững trinh chính). Lời Thoán truyện quẻ Sư nói : "Trinh là chính vậy". Khổng Dĩnh Đạt, Lý Đỉnh Tộ khi giải thích Lời quẻ của quẻ Càn đều dẫn Tử Hạ truyện nói: "Trinh là chính vậy". Thiên Huấn Hỗ - Nhĩ nhã giải thích cũng giống như vậy.
     Về "nhân sự", thì chữ Trinh có nghĩa là hành vi đúng đắn, tâm chí vững vàng, sự việc ắt sẽ hanh thông, mà dẫn tới thành công. Cho nên, Văn ngôn truyện quẻ Càn nói: "Trinh có nghĩa là công việc được làm". Song nếu phân tích cụ thể chữ Trinh xuất hiện trong Lời quẻ, Lời hào, thì ý nghĩa của chữ này còn chỉ Hào đó ở ngôi vị có "đắc chính" hay không mà hơi có sự khác biệt. 

      Khi hào Dương ở các ngôi Sơ - Tam - Ngũ, hào Âm ở các ngôi Nhị - Tứ - Thượng, thì đều đắc "chính vị", ý nghĩa của chữ Trinh sẽ là "tiếp tục giữ gìn đức trinh chính kiên cố".
      Khi hào Dương ở các ngôi Nhị - Tứ - Thượng, hào Âm ở các ngôi Sơ - Tam - Ngũ, lúc này nếu Lời quẻ hay Lời hào nói Trinh, thì ý nghĩa của chữ Trinh sẽ là "cố gắng lấy đức trinh chính mà giữ mình".
       Nghĩa thứ nhất như "Lợi cư trinh" của hào Sơ quẻ Truân, nghĩa thứ hai như trong "trinh cát" của hào Tứ quẻ Tụng. Các chỗ khác có thể căn cứ vào đây mà suy ra ý nghĩa khi luận giải Học dịch.

       Sự khác nhau rất nhỏ của hai loại ý nghĩa này, phải căn cứ vào Hào vị, Lời hào mà xác định cẩn thận. Tả truyện phần Lỗ Tương Công năm thứ 7 ghi lời Mục Tử: "Chính trực là chính, chính khúc là trực". Bất kể là khúc hay trực, thì đều quy phạm ở chính. Như vậy, quả thật là khế hợp với hai nghĩa trên của chữ Trinh.
      Dịch học của Ngu Phiên thời Tam quốc có thuyết "Chi chính", nhằm mục đích khiến các Hào "thất chính" đều "biến thành chính", về nghĩa lý có thể thông với nghĩa thứ hai của chữ Trinh.


      TRINH HẠ KHỞI NGUYÊN     
     Lời Thoán truyện quẻ Càn, để giải thích nghĩa của các chữ Nguyên Hanh Lợi Trinh trong Lời quẻ. Các nhà Dịch học cho rằng, trong đó mượn 4 mùa xuân hạ thu đông để dụ ý chỉ diễn giải ý nghĩa của Nguyên Hanh Lợi Trinh. Thoán truyện giải thích nghĩa của chữ Trinh xong, cuối cùng lại dùng hai câu "thủ xuất thứ vật, vạn quốc hàm ninh" (đứng đầu sinh ra các vật, muôn nước đều được an ninh), để quay trở lại thuyết minh thêm nữa về nghĩa của chữ Nguyên, giống như Đông hết Xuân sang, dương mới hồi lại, muôn vật thịnh vượng.
      Xét về bốn đức Nguyên Hanh Lợi Trinh của quẻ Càn mà nói, đây là từ Trinh mà quay trở về Nguyên. Nhà Dịch học gọi ý nghĩa bao hàm ở trong ý này là "Trinh hạ khởi nguyên". Trùng dịch Chu dịch Phí thị học -  Mã Kỳ Sưởng viết: "Trinh hạ khởi nguyên, muôn vật thế là nhờ đó bắt đầu". Chu dịch Thượng thị học - Thượng Bỉnh Hoà viết: "Trinh là gốc của Nguyên, Nguyên là thể hiện nổi bật của Trinh; đứng đầu sinh ra các vật, đó là nghĩa của Trinh hạ khởi Nguyên vậy". Lại nói "Trinh chẳng phải là tịch diệt vô vi, mà đó chính là thứ để xây nền móng của Nguyên Hanh. Cho nên đông hết xuân sang, Trinh lâu rồi thì Nguyên tới, đứng đầu sinh ra các vật đó là Nguyên vậy, dụ ý chỉ quay trở lại cái ban đầu".


      TRINH CỐ TÚC DĨ CÁN SỰ      
     Lời Văn ngôn truyện của quẻ Càn, mục đích để suy luận diễn giải nghĩa của chữ Trinh trong Quái từ quẻ Càn, có nghĩa là: kiên trì, tiết tháo, ngay chính, vững vàng, thì có thể làm tốt công việc. Chu dịch tập giải - Lý Đỉnh Tộ viết: "Trinh là căn bản của công việc để phối hợp với Trí, Trí chủ về mùa đông ẩn tàng, thuộc Thuỷ phương Bắc vậy". Chu dịch bản nghĩa - Chu Hi viết: "Trinh cố có nghĩa là "chính" đang tồn tại mà cố giữ lấy, đó gọi là biết mà chẳng đi vậy, cho nên đủ để làm căn bản của công việc". Xét, câu này là phát triển nghĩa căn bản của chữ Trinh mà Văn ngôn truyện đã giải thích.
      "Cán" là thân cây, đây nghĩa như căn bản. Chu Hi nói: "Trinh là sự hoàn thành việc sinh ra các vật, nên về thời là mùa Đông, ứng với người thì là Trí, và là căn bản của các vật. Cán là thân cây, cành lá phải nương tựa vào đó thì mới đứng vững được".

        TRINH - HỐI
       Thể lệ Dịch học thời tiên Tần, trong 64 quẻ thì, gọi Nội quái là Trinh, gọi Ngoại quái là Hối. Tả truyện phần Hy Công năm thứ 9 chép việc Trần Bá đánh Sở, thầy bói Đồ Phủ bói được quẻ Cổ, nói: "Trinh của Cổ là gió, Hối của Cổ là núi. Quốc Ngữ - Tấn Ngữ chép: "Tấn công tử Trùng Nhĩ đích thân bói Dịch nói: Vẫn còn nước Tấn? được quẻ Trinh Truân - Hối Dự, đều tám". Vi Chiêu chú thích: "Chấn tại Truân là Trinh, tại Dự là Hối, 8 là chỉ hai Hào âm của Chấn tại Trinh và tại Hối đều bất động, nên nói là "đều tám" (8 là âm)". Đây là lấy Nội quái của Truân, và Ngoại quái của Dự đều là Chấn để mà thuyết minh. Lại nữa, Đường Lục Điền nói: "Phàm Nội quái gọi là Trinh, bói buổi sớm dùng nó. Ngoại quái gọi là Hối, bói buổi chiều dùng nó".
      Xét, trong Lời quẻ và Lời hào, thường hay có các chữ Trinh Hối, Hồ Bính Văn giải thích riêng về các chữ này, nói: "Hào Thượng quẻ Càn là ngôi cùng của Ngoại quái, nói Hữu hối; hào Tam quẻ Khôn ở ngôi cực của nội quái, nói Khả trinh. Hai chữ Trinh Hối há chẳng phải đề ra phàm lệ của các lệ ư".
     

Hôm nay, Trái đất cách xa Mặt trời nhất trong năm

      Nếu Mặt trời nhìn nhỏ hơn bình thường vào ngày 4/7, đó không phải do cảm giác của bạn. Bởi vì, ngày 4/7, Trái đất sẽ ở cách xa Mặt trời nhất trong năm nay.

       Quỹ đạo quay quanh Mặt trời của các hành tinh, bao gồm Trái đất, không phải là một đường tròn hoàn hảo. Điều này đã lần đầu tiên được giải tích chi tiết bằng toán học từ thế kỷ 17 bởi nhà thiên văn học người Đức Johannes Kepler.
      Nhà thiên văn học  Kepler đã phát hiện thấy rằng quỹ đạo của các hành tinh trong Hệ Mặt trời có hình elip. Điều này có nghĩa sẽ có một điểm mà hành tinh ở gần Mặt trời nhất và một điểm hành tinh ở xa Mặt trời nhất, nhà thiên văn học Mark Hammergren, thuộc trung tâm Adler Planetarium, Chicago, Mỹ cho biết.
       Vào ngày 4/7, hành tinh của chúng ta sẽ ở điểm xa nhất – 152.102.196 km – từ Mặt trời. Năm nay, Trái đất đi qua điểm ở cách Mặt trời gần nhất vào ngày 3/1, khi đó hành tinh của chúng ta cách Mặt trời 149.597.870 km.
       Trung bình, Trái đất cách xa gần 5 triệu km khi ở điểm xa nhất so với điểm gần nhất từ Mặt trời – khoảng 3%. Điều này đồng nghĩa kích thước của Mặt trời sẽ nhỏ hơn khoảng 3% khi nhìn từ điểm xa nhất so với điểm gần nhất, nhưng bạn có thể không nhận thấy sự khác biệt này bằng mắt thường. 


http://bee.net.vn/channel/2981/201107/Hom-nay-Trai-dat-cach-xa-Mat-troi-nhat-trong-nam-1804245/