Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thiên kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Mậu Ngọ

1. Chu kỳ 1 - Mậu Ngọ - Thuần Khảm, hào 3
- “Lục Tam, lai chi khảm khảm, hiểm thả chẩm, nhập vu khảm tãm, vật dụng.”
- “Sáu ba, tới lui đều ở trong vòng hiểm hãm, đi tới là hiểm lui lại khó an, rơi xuống hố sâu không thể thi thố tài dụng.”
- Tượng “lai chi khảm khảm, chung vô công dã” – ý nói hào Sáu Ba cuối cùng khó thành công trong sự “hành hiểm”.

2. Chu kỳ 2 - Mậu Ngọ - Thủy Trạch Tiết, hào 3
- “Lục Tam, bất tiết nhược, tắc ta nhược, vô cữu.”
- “Sáu Ba, không tiết chế được, nhưng biết than vãn tự hối, thì có thể tránh được tội lỗi”.
- Tượng “Bất tiết chi ta, hựu thùy cữu dã” – "Không tiết chế được, nhưng biết tự hối", như vậy hỏi còn kẻ nào dám đổ lỗi cho nữa !

3. Chu kỳ 3 - Mậu Ngọ - Thủy Lôi Truân, hào 3
- “Lục Tam, tức lộc vô ngu, duy nhập vu lâm trung ; quân tử cơ, bất như xả, vãng lận.”
- “Sáu Ba, đuổi hiêu không có ngu nhân dẫn đường, thì chỉ đi sâu vào rằng rậm vô ích ; người quân tử cần kiến có hành sự, lúc này bỏ không đuổi nữa là hơn cả, nếu cứ nhất mực tiến nữa, tất sẽ hối tiếc.”
- Tượng “Tức lộc vô ngu, dĩ tòng cầm dã ; quân tử xả chi, vãng lận, cùng dã” – "Không có người dẫn đường, mà vẫn đuổi bắt", ý nói hào Sáu Ba lòng tham đã thái quá. "Người quân tử bỏ không đuổi nữa", nếu cứ đuổi mãi thì sẽ cùng khốn.

4. Chu kỳ 4 - Mậu Ngọ - Thủy Hỏa Ký tế, hào 3
- “Cửu Tam, Cao Tông phạt Quỷ Phương, tam niên khắc chi ; tiểu nhân vật dụng”.
- “Sáu Ba, vua Ân Cao Tông đánh nước Quỷ Phương, kéo dài ba năm cuối cùng mới thắng ; không thể dùng kẻ tiểu nhân nóng vội gấp tiến”.
- Tượng viết: “Tam niên khắc chi, bị dã” – "Kéo dài ba năm cuối cùng mới thắng", ý nói hào Chín Ba nỗ lực, bền bỉ tới mức sức lực cùng kiệt.

5. Chu kỳ 5 - Mậu Ngọ - Trạch Hỏa Cách, hào 3
- “Cửu Tam, chinh hung, trinh lệ ; cách ngôn tam tựu, hữu phu.”
- “Chín Ba, gấp vội cầu tiến tất sinh “hung”, giữ chính phòng nguy hiểm ; khi biến cách bước đầu đã thành hiệu cần phải nhiều lần đi xuống làm theo lòng dân, yên định đại cục, xử sự phải giữ lòng thành tín.”
- Tượng “Cách ngôn tam tựu, hựu hà chi hỹ.” – "Khi sự biến cách bước đầu đã thành hiệu quả", nói lên tại thời điểm này, hào Chín Ba hà tất phải quá vội vàng đi lên !

6. Chu kỳ 6 - Mậu Ngọ - Lôi Hỏa Phong, hào 3
- “Cửu Tam, phong kỳ bái, nhật trung kiến muội ; chiết kỳ hữu quăng, vô cữu.”
- “Chín Ba, tấm màn lớn che kín ánh sáng, như mặt trời đang chính Ngọ mà mọc sao nhỏ, nếu có thể khom mình, thận trọng giữ gìn như bị gẫy cánh tay phải thì không bị cữu hại.”
- Tượng “Phong kỳ bái, bất khả đại sự dã ; chiết kỳ hữu quăng, chung bất khả dụng dã.” - "Tấm màn lớn che kín ánh sáng", hình ảnh này nói hào Chín Ba không thể đảm nhiệm việc lớn ; "Khom mình thận trọng giữ gìn", ý nói hào Chín Ba cuối cùng không thể thi thố được tài năng.

7. Chu kỳ 7 - Mậu Ngọ - Địa Hỏa Minh di, hào 3
- “Cửu Tam, minh di vu Nam thú, đắc kỳ đại thủ ; bất khả tật, trinh.”
- “Chín Ba, đi tuần thú ở phương Nam, tiến hành chinh phạt ở thời ánh sáng bị tổn thương, diệt trừ kẻ đầu sỏ hung ác ; lúc này không thể hành động gấp, nên giữ vững chính bền.”
- Tượng “Nam thú chi chí, nãi đại đắc dã.” – "Chí hướng đi tuần thú phương Nam tiến hành chinh phạt", là hình tượng hào Chín Ba tất sẽ có thu hoạch lớn. Chu Hy nói “Thành Thang nổi lên ở ngục Hạ Đài, Văn Vương dấy lên ở ngục Dũ Lý, chính hợp với nghĩa của hào này. Mà việc nhỏ cũng như thế.”. Ý nghĩa tượng trưng của Dịch, từ đó mà suy ra đều có sự trưng nghiệm vậy.

8. Chu kỳ 8 - Mậu Ngọ - Địa Thủy Sư, hào 3
- “Lục Tam, sư hoặc dư thi, hung.”
- “Sáu Ba, quân chốc chốc phải chở xác về, có hung hiểm.”
- Tượng “Sư hoặc dư thi, đại vô công dã” – "Quân chốc chốc phải chở xác về", hình ảnh nói lên hào Sáu Ba không thể có chiến công.

Mậu Thân

1. Chu kỳ 1 - Mậu Thân - Thuần Khảm, hào 4
- “Lục Tứ, tôn tửu, quỹ nhị, dụng phẫu, nạp ước tự dũ, chung vô cữu.”
- “Sáu Bốn, một chén riệu nhạt, hai rá thức ăn đạm bạc, dùng vò sành thô lậu đựng các thứ trên (thành kính dâng biếu bậc tôn quý), nộp ước qua cửa sổ sáng, cuối cùng tránh được họa hại.”
- Tượng “tôn tửu quỹ nhị, cương nhu tế dã” – Ý hào Chín Năm dương cứng và hào Sáu Bốn âm mềm giao tiếp với nhau.

2. Chu kỳ 2 - Mậu Thân - Thủy trạch Tiết, hào 4
- “Lục Tứ, an tiết, hanh.”
- “Sáu Bốn, yên lòng tự tiết chế, hanh thông.”
- Tượng “An tiết chi hanh, thừa tượng đạo dã” – ý nói hào Sáu Bốn nghiêm cẩn giữ đạo “thuận thừa” bậc tôn trưởng.

3. Chu kỳ 3 - Mậu Thân – Thủy Lôi Truân, hào 4
- “Lục Tứ, thừa mã ban như, cầu hôn cấu ; vãng cát, vô bất lợi.”
- “Sáu Bốn, cưỡi ngựa dập dừu tới, muốn cầu hôn ; đi lên tất sẽ tốt lành, không gì là không lợi.”
- Tượng “Cầu nhi vãng, minh dã” - "Muốn cầu hôn ở phía dưới mà tiến lên", ý nói lên Sáu Bốn là kẻ sáng suốt, hiểu biết.

4. Chu kỳ 4 - Mậu Thân – Thủy Hỏa Ký tế, hào 4
- “Lục Tứ, nhu hữu y như, chung nhật giới.”
- “Sáu Bốn, quần áo đẹp rồi sẽ biến thành rách nát tả rơi, phải luôn đề phòng họa hoạn.”
- Tượng viết: “Chung nhật giới, hữu sở nghi dã” - "Phải luôn đề phòng họa hoạn", ý nói hào Sáu Bốn đang có sự nghi sợ.

5. Chu kỳ 5 - Mậu Thân - Trạch Hỏa Cách, hào 4
- “Cửu Tứ, hối vong, hữu phu cải mệnh, cát.”
- “Chín Bốn, hối hận mất hết, giữ lòng thành tín để cách trừ (vương) mệnh cũ, tốt lành.”
- Tượng “Cải mệnh chi cát, tín chí dã.” – "Cách (vương) mệnh cũ thì được tốt lành", hình tượng nói lên hào Chín Bốn thực hiện chí biến cách.

6. Chu kỳ 6 - Mậu Thân – Lôi Hỏa Phong, hào 4
- “Cửu Tứ, phong kỳ bộ, nhật trung kiến Đẩu ; ngộ kỳ di chủ, cát.”
- “Chín Bốn, tấm trướng lớn che kín ánh sáng, như mặt trời đang chính Ngọ lại mọc sao Bắc Đẩu ; nhưng có thể gặp được bạn dương đức ngang bằng vai vế, tốt lành.”
- Tượng “Phong kỳ bộ, vị bất đáng dã ; nhật trung kiến đẩu, u bật minh dã ; ngộ kỳ di chủ, cát hành dã.” - "Tấm gương lớn che kín ánh sáng", hình ảnh nói lên ngôi vị của hào Chín Bốn không thỏa đáng ; "Như mặt Trời đương lúc chính Ngọ lại mọc sao Bắc Đẩu", ý nói lên lúc này tối tăm không thấy ánh sáng ; "Gặp người chủ dương đức ngang bằng vai vế", ý nói hào Chín Bốn đi lên tất sẽ được tốt lành.

7. Chu kỳ 7 - Mậu Thân - Địa Hỏa Minh di, hào 4
- “Lục Tứ, nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình.”
- “Sáu Bốn, lui về bên trái bụng, hiểu rõ tình trạng bên trong của thời ánh sáng bị tổn thương, do đó cương quyết bỏ nhà ra đi.”
- Tượng “Nhập vu tả phúc, hoạch tâm ý dã.” – "Lui về bên trái bụng", đây là hình tượng nói có thể hiểu sâu tình trạng bên trong của thời ánh sáng bị tổn thương. Phàm nói về bên phải là tiện dụng cho mọi việc, theo bên trái mà không theo bên phải là nghĩa nhún thuận, không phản nghịch.

8. Chu kỳ 8 - Mậu Thân - Địa Thủy Sư, hào 4
- “Lục Tứ, sư tả thứ, vô cữu.”
- “Sáu Bốn, quân lui về, tạm giữ thế thủ thì tránh được cữu hại.”
- Tượng “Tả thứ vô cữu, vị thất thường dã” - "Tạm giữ thế thủ", ý nói hào Sáu Bốn dùng binh không mất phép thường.

Mậu Tuất

1. Chu kỳ 1 - Mậu Tuất - Thuần Khảm, hào 5
- “Cửu Ngũ, khảm bất doanh, chỉ kí bình, vô cữu.”
- “Chín Năm, hố bẫy hiểm nạn còn trưa tràn đầy, thì gò nhỏ đã bị san bằng, tất không họa hại.”
- Tượng “khảm bất doanh, trung vị đại dã” – Ý tượng nói hào Chín Năm tuy ở ngôi giữa, nhưng công sức làm cho đầy phẳng chỗ hiểm còn được chưa sáng lớn.

2. Chu kỳ 2 - Mậu Tuất - Thủy Trạch Tiết, hào 5
- “Cửu Ngũ, cam tiết, cát ; vãng hữu thượng.”
- “Chín Năm, tiết chế một cách thích đáng, khiến người ta cảm thấy đẹp đẽ vừa phải, tốt lành ; tiến về phía trước, tất được tôn sùng.”
- Tượng “Cam tiết chi cát, vị cư trung dã” – Do bởi vậy là vì hào Chín Năm ở cao ngôi giữa, được chính.

3. Chu kỳ 3 - Mậu Tuất – Thủy Lôi Truân, hào 5
- “Cửu Ngũ, truân kỳ cao. Tiểu, trinh cát ; đại, trinh hung."
- “Chín Năm, muốn khắc sự gian nan thời khai sáng buổi đầu, cần rộng ban bố ân trạch. Việc nhỏ, giữ được chính bền thì tốt ; việc lớn, giữ được chính bền để phòng hung hiểm.”
- Tượng “Truân kỳ cao, thi vị quang dã” - "Cần rộng ban bố ân trạch", ý nói đức trạch của hào Chín Năm ban bố còn chưa tỏa sáng.

4. Chu kỳ 4 - Mậu Tuất – Thủy Hỏa Ký tế, hào 5
- “Cửu Ngũ, đông lân sát ngưu, bất như tây lân chi Thược tế, thực thụ kỳ phúc.”
- “Chín Năm, nước láng giềng bên đông giết trâu tế lớn, chẳng bằng lễ “tế Thược” sơ sài của nước láng giềng bên tây, được thực hưởng nhiều phúc trạch của thần linh ban giáng hơn.”
- Tượng viết: “Đông lân sát ngưu, bất như tây lân chi thời dã ; thực thụ kỳ phúc, cát đại lai dã” – “Chẳng bằng “tế Thược” của nước láng giềng phía tây”, ý hình tượng nói nước láng giềng phía Tây tế lễ hợp thời ; “nước láng giềng phía Tây càng được thực hưởng phúc trạch của thần linh ban giáng nhiều hơn”, đây là hình ảnh dụ chỉ sự tốt lành nối tiếp nhau đến.

5. Chu kỳ 5 - Mậu Tuất - Trạch Hỏa Cách, hào 5
- “Cửu Ngũ, đại nhân hổ biến, vị chiêm hữu phu.”
- “Chín Năm, bậc đại nhân tiến hành biến cách như con mãnh hổ, không nghi ngờ gì nữa, tất sẽ làm sáng tỏ đức đẹp thành tín, chân thực.”
- Tượng “Đại nhân hổ biến, kỳ văn bỉnh dã.” - "Bậc đại nhân tiến hành biến cách như con mãnh hổ", hình tượng nói lên đức đẹp của hào Chín Năm mang mầu vẻ đẹp đẽ.

6. Chu kỳ 6 - Mậu Tuất – Lôi Hỏa Phong, hào 5
- “Lục Ngũ, lai chương, hữu khánh dự, cát.”
- “Sáu Năm, mời người tài sáng đẹp trong thiên hạ để có được ánh sáng thịnh lớn, tất phải được phúc khánh và tiếng khen, tốt lành.”
- Tượng “Lục Ngũ chi cát, hữu khánh dã.” - "Sự tốt lành của Sáu Năm", tất có phúc khánh.

7. Chu kỳ 7 - Mậu Tuất - Địa Hỏa Minh di, hào 5
- “Lục Ngũ, Cơ Tử chi minh di, lợi trinh.”
- “Sáu Năm, như ông Cơ Tử thời Ân, lợi về sự giữ vững chính bền.”
- Tượng “Cơ Tử chi trinh, minh bất khả tức dã.” – "Cơ Tử triều Ân giữ vững chính bền", hình tượng ánh sáng trong lòng hào Sáu Năm không thể tắt. Phỏng theo tượng Cơ Tử triều Ân bị vua Trụ bắt tù, giả điên giấu sự sáng của mình giữ chí, ví với Sáu Năm rất gần với “ám quân”, thân mắc vào nội nạn, lợi về giữ chính không đổi lòng, không bị sự hôn ám làm cho mai một.

8. Chu kỳ 8 - Mậu Tuất - Địa Thủy Sư, hào 5
- “Lục Ngũ, điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, vô cữu ; trưởng tử suất sư, đệ tử dư thi, trinh hung.”
- “Sáu Năm, trong ruộng có cầm thú, lợi về sự vậy bắt, tất không có gì cữu hại ; ủy nghiệm cho bậc trưởng giả cương chính, thì có thể thống suất quân đội, còn ủy nhiệm cho bọn người trẻ tuổi không có đức thì tất phải trở xác, đại bại mà về, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm.”
- Tượng “Trưởng tử suất sư, dĩ trung hành dã” – Nói lên hành vi Sáu Năm là ở ngôi giữa không lệch. “đệ tử dư thi, sử bất đáng dã” – Đây là kết quả của việc sử dụng người không đích đáng.

Mậu Tý

1. Chu kỳ 1 - Mậu Tý - Thuần Khảm, hào 6
- “Thượng Lục, hệ dụng huy mặc, chỉ vu tùng cức, tam tuế bất đắc, hung.”
- “Sáu Trên, bị trói bằng dây thừng, giam hãm trong bụi gai, ba năm không được giải thoát, có hung hiểm."
- Tượng “thượng lục thất đạo, hung tam tuế dã” – ý tượng nói hào Sáu Trên lạc chính đạo đi vào nơi hiểm, hung hiểm sẽ kéo dài suốt ba năm.

2. Chu kỳ 2 - Mậu Tý - Thủy Trạch Tiết, hào 6
- “Thượng Lục, khổ tiết ; trinh hung, hối vong.”
- “Sáu Trên, tiết chế quá mức, khiến người ta quá khổ sở ; nên giữ vững chính bền để phòng hung hiểm, thì hối hận có thể tiêu vong.”
- Tượng “Khổ tiết trinh hung, kỳ đạo cùng dã” - "Tiết chế quá mức khiến người ta quá khổ sở", ý nói lên đạo tiết chế của hào Sáu Trên đã khốn cùng.

3. Chu kỳ 3 - Mậu Tý – Thủy Lôi Truân, hào 6
- “Thượng Lục, thừa mã ban như, khấp huyết liên như.”
- “Sáu Trên, người cưỡi ngựa muốn cầu hôn phối (nhưng lại không có được sự cảm ứng), nên thương tâm khóc đến nỗi máu mắt chảy đầm đìa.”
- Tượng “Khấp huyết liên như, hà khả trường dã” – "Khóc đến nỗi nước mắt chảy đầm đìa", hình ảnh này nói lên hào Sáu Trên làm sao mà có thể trường cửu như vậy được !

4. Chu kỳ 4 - Mậu Tý – Thủy Hỏa Ký tế, hào 6
- “Thượng Lục, nhu kỳ thủ, lệ.”
- “Sáu Trên, con cáo nhỏ qua sông đánh ướt đầu, có nguy hiểm.”
- Tượng viết: “Nhu kỳ thủ, lệ’, hà khả cửu dã” – “Con cáo nhỏ qua sông đánh ướt đầu, có nguy hiểm”, dụ chỉ ý tượng sau khi việc thành, nếu không cẩn thận, thì làm sao bảo vệ sự thành công cho được lâu dài !

5. Chu kỳ 5 - Mậu Tý - Trạch Hỏa Cách, hào 6
- “Thượng Lục, quân tử báo biến, tiểu nhân cách diện ; chinh hung, cư trinh cát.”
- “Sáu Trên, người quân tử như được con báo đốm giúp đã làm nên sự biến cách, kẻ tiểu nhân đua nhau thay đổi khuynh hướng thời trước ; lúc này nếu cứ tiếp tục tiến mạnh không thôi, tất có hung hiểm, ở yên giữ chính thì được tốt lành.”
- Tượng “Quân tử báo biến, kỳ văn úy dã ; tiểu nhân cách diện, thuận dĩ tòng quân dã.” - "Người quân tử như được con báo đốm giúp đã làm nên sự biến cách", hình tượng nói lên mỹ đức của hào Sáu Trên nhân vì vẻ tươi tắn sáng sủa của bậc đại nhân mà thành ra rực rỡ ; "kẻ tiểu nhân đua nhau thay đổi khuynh hướng thời trước", đây là thuận tòng sự biến cách của nhà vua.

6. Chu kỳ 6 - Mậu Tý – Lôi Hỏa Phong, hào 6
- “Thượng Lục, phong kỳ ốc, bộ kỳ gia, khuy kỳ hộ, khuất kỳ vô nhân, tam tuế bất địch, hung.”
- “Sáu Trên, nhà cao cửa rộng, phòng ốc trướng rủ màn che, nhìn qua cửa sổ, tĩnh lặng không một bóng người, qua ba năm rồi vẫn không thấy ai, ẩn giấu quá kín như vậy tất có hung hiểm.”
- Tượng “Phong kỳ ốc, thiên tế đường dã ; khuy kỳ hộ, khuất kỳ vô nhân, tự tàng dã.” – "Nhà cao cửa rộng", hình tượng này nói lên hào Sáu Trên ở ngôi cao cùng cực, như bay lượn trên bầu trời ; "Nhìn qua cửa sổ tĩnh lặng không một bóng người", đây là hình ảnh nói lên hào Sáu Trên tự ẩn giấu nơi sâu kín.

7. Chu kỳ 7 - Mậu Tý - Địa Hỏa Minh di, hào 6
- “Thượng Lục, bất minh hối ; sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.”
- “Sáu Trên, không tỏa sáng mà đem lại sự u tối ; mới đầu lên tận trời cao, cuối cùng rơi vào trong đất.”
- Tượng “Sơ đăng vu thiên, chiếu tứ quốc dã.” - "Mới Đầu lên tận trời cao", hình ảnh có thể chiếu rọi ra các nước ở bốn phương ; “hậu nhập vu địa, thất tắc dã.” - "Cuối cùng rơi vào trong đất", ý hình tượng nói hào Sáu Trên vi phạm phép tắc. Lời hào nói “bất minh hối”, không sáng mà tối, đó là sự sáng của năm hào đều bị hào Sáu Trên làm thương tổn.

8. Chu kỳ 8 - Mậu Tý - Địa Thủy Sư, hào 6
- “Thượng Lục, đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia, tiểu nhân vật dụng.”
- “Sáu Trên, thiên tử ban phát mệnh lệnh, phong thưởng cho các công thần, là chư hầu, là đại phu ; còn kẻ tiểu nhân thì không thể trọng dụng.”
- Tượng “Đại quân hữu mệnh, dĩ chính công dã ; tiểu nhân vật dụng, tất loạn bang dã” – "Ban phát mệnh lệnh", ý nói là để định công ban thưởng, không phân biệt quân tử tiểu nhân ; "tiểu nhân không thể trọng dụng", ý tượng nói không thể cùng họ bàn bạc các vấn đề kinh sách mưu lược, nếu dùng kẻ tiểu nhân thì sẽ nguy loạn cho đất nước.

Mậu Dần

1. Chu kỳ 1 - Mậu Dần - Tập Khảm, hào 1
- “Sơ Lục, tập khảm, nhập vu khảm tãm, hung.”
- “Sáu Đầu, ở nơi chất chồng hiểm họa cạm bẫy, rơi sâu vào hố bẫy, có hung hiểm.”
- Tượng “tập khảm nhập khảm, thất đạo hung dã” – ý nói hào Sáu Đầu lạc đường rơi thêm vào chỗ hiểm nên tất có hung hiểm.

2. Chu kỳ 2 - Mậu Dần - Thủy Trạch Tiết, hào 1
- “Sơ Cửu, bất xuất hộ đình, vô cữu.”
- “Chín Đầu, (tiết chế thận trọng giữ gìn), không ra khỏi sân cổng nhà, tất không có tội lỗi.”
- Tượng “Bất xuất hộ đình, tri thông tắc dã” – "Không ra khỏi sân cổng nhà", nói lên hào Chín Đầu rất biết cái lý đường thông thì đi, đường bị ngăn thì dừng.

3. Chu kỳ 3 - Mậu Dần – Thủy Lôi Truân, hào 1
- “Sơ Cửu, bàn hoàn, lợi cư trinh, lợi kiến hầu.”
- “Chín Đầu, loanh quanh, lợi về sự ở yên, giữ vững chính bền, lợi về việc kiến lập chư hầu.”
- Tượng “Tuy bàn hoàn, chí hành chính dã ; ‘dĩ quý hạ tiện’ đại đắc dân dã” - "Mặc dầu loanh quanh", nhưng hành vi tâm chí đều giữ được đoan chính, thân phận tôn quý mà lại ở ngôi thấp, nói lên hào Chín Đầu sẽ rất được lòng dân.

4. Chu kỳ 4 - Mậu Dần – Thủy Hỏa Ký tế, hào 1
- “Sơ Cửu, duệ kỳ luân, nhu kỳ vỹ, vô cữu.”
- “Chín Đầu, kéo ngược bánh xe về phía sau (để không đi nhanh), con cáo qua sông đánh (làm) ướt đuôi (để không đi nhanh), tất không có lỗi.”
- Tượng “Duệ kỳ luân, nghĩa vô cữu dã” – “Kéo ngược bánh xe về phía sau (để không đi nhanh), nói lên hành vi của hào Chín Đầu hợp với ý nghĩa: cẩn thận giữ gìn mọi thành tựu mà không dẫn đến họa hại.

5. Chu kỳ 5 - Mậu Dần - Trạch Hỏa Cách, hào 1
- “Sơ Cửu, củng dụng hoàng ngưu chi cách.”
- “Chín Đầu, nên bó chặt bằng da con bò vàng.”
- Tượng “Củng dụng hoàng ngưu, bất khả dĩ hữu vi dã.” – "Bó chặt bằng da bò", hình ảnh này nói lên hào Chín Đầu không thể bạ việc gì cũng làm bừa làm càn để biến cách.

6. Chu kỳ 6 - Mậu Dần – Lôi Hỏa Phong, hào 1
- “Sơ Cửu, ngộ kỳ phối chủ, tuy tuần vô cữu, vãng hữu thượng.”
- “Chín Đầu, gặp được người chủ nhà hợp với mình, mặc dù hai hào dương đức ngang nhau nhưng không bị cữu hại, đi lên tất được sùng thượng.”
- Tượng “Tuy tuần vô cửu, quá tuần tai dã.” – "Dương đức ngang nhau mà không bị hại", ý nói lên hào Chín Đầu và Chín Bốn nếu dương đức không ngang nhau, tất sẽ cạnh tranh nhau mà có tại hoạn.

7. Chu kỳ 7 - Mậu Dần - Địa Hỏa Minh di, hào 3
- “Cửu Tam, minh di vu nam thú, đắc kỳ đại thủ ; bất khả tật, trinh.”
- “Chín Ba, đi thuần thú ở phương Nam, tiến hành trinh phạt ở thời ánh sáng bị tổn thương, diệt trừ kẻ đầu sỏ hung ác ; lúc này không thể hành động gấp, nên giữ vững chính bền.”
- Tượng “Nam Thú chi chí, nãi đại đắc dã.” – "Chí hướng đi thuần thú phương Nam, tiến hành chinh phạt của Chín Ba", ý nói lên tất có thu hoặch lớn. Chu Hy nói “Thành Thang nổi lên ở ngục Hạ Đài, Văn Vương dấy lên ở ngục Dũ Lý, chính hợp với nghĩa của hào này, mà việc nhỏ cũng như thế. Ý nghĩa tượng trưng của Chu Dịch rất rộng, vô luận là việc xưa, việc nay, việc lớn, việc nhỏ, đều có thể từ đó suy ra mà đều có sự “trưng nghiệm” cả, vị tất phải “câu” ở một hiện tượng, “nệ” vào sự mất việc.

8. Chu kỳ 8 - Mậu Dần - Địa Thủy Sư, hào 1
- “Sơ Lục, sư xuất dĩ luật, phủ tang hung.”
- “Sáu Đầu, quân đội khi xuất quân thì phải dùng quân luật, hiệu lệnh để ước thúc, quân kỷ không khéo tất có hung hiểm.”
- Tượng “Sư xuất dĩ luật, thất luật hung dã” - "Xuất quân phải dùng quân luật và hiệu lệnh nghiêm minh", ý nói hào Sáu Đầu nếu để mất quân kỷ tất có hung hiểm.

Kỷ Mùi

1. Chu kỳ 1 - Kỷ Mùi – Thuần Ly, hào 5
- “Lục Ngũ, xuất thế đà nhược, thích ta nhược, cát.”
- “Sáu Năm, nước mắt chảy ròng ròng, ngậm ngùi than thở, (ở nơi tôn quý, được giúp dập, về cuối sẽ) tốt lành.”
- Tượng “lục ngũ chi cát, ly vương công dã” – ý tượng nói hào Sáu Năm được phụ bám vào ngôi tôn quý của đấng vương công.

2. Chu kỳ 2 - Kỷ Mùi - Hỏa Sơn Lữ, hào 5
- “Lục Ngũ, xạ trĩ, nhất thỉ vong ; chung dĩ dự mệnh.”
- “Sáu Năm, bắn con chim trĩ, mất một mũi tên (mặc dù có tổn thất nhưng), sau được tiếng khen và được ban tước lệnh."
- Tượng “Chung dĩ cư mệnh, thượng đãi dã” - "Được khen và ban tước mệnh", nói lên Sáu Năm có thể theo kịp người trên.

3. Chu kỳ 3 - Kỷ Mùi – Hỏa phong Đỉnh, hào 5
- “Lục Ngũ, đỉnh hoàng nhĩ kim huyễn, lợi trinh.”
- “Sáu Năm, vạc có tai mầu vàng, đòn vạc cứng rắn, lợi về sự giữ vững chính bền.”
- Tượng “Đỉnh hoàng nhĩ, trung dĩ vi thực dã” - "Vạc có tai mầu vàng", ý hình tượng nói lên hào Sáu Năm ở ngôi giữa mà được tính cứng đặc.

4. Chu kỳ 4 - Kỷ Mùi – Hỏa Thủy Vị tế, hào 5
- “Lục Ngũ, trinh cát, vô hối ; quân tử chi quang, hữu phu cát.”
- “Sáu Năm, giữ vững chính bền thì được tốt lành, không có gì phải hối hận ; đây là do sự sáng của người quân tử, (lại thêm) trong lòng thành tín mà được tốt lành."
- Tượng viết: “Quân tử chi quang, kỳ huy cát dã” - "Sự sáng của người quân tử, dụ chỉ sự rực lên những tia sáng của Sáu Năm", đây là hình tượng thể hiện của sự tốt lành.

5. Chu kỳ 5 - Kỷ Mùi – Sơn Thủy Mông, hào 5
- “Lục Ngũ, đồng mông, cát.”
- “Sáu Năm, trẻ nhỏ chưa biết gì, chính thế lại dễ dạy, tốt lành.”
- Tượng “Đồng mông chi cát, thuận dĩ tốn dã.” - "Trẻ nhỏ chưa biết gì", ý nói lên hào Sáu Năm cung kính, nhu thuận, khiêm tốn với thầy dạy.

6. Chu kỳ 6 - Kỷ Mùi – Phong Thủy Hoán, hào 5
- “Cửu Ngũ, hoán hãn kỳ đại hiệu, hoán vương cư, vô cữu.”
- “Chín Năm, ban bố hiệu lệnh lớn (như mồ hôi toát ra trên thân mình xuất ra mà không trở lại), lại tán phát của cải trong kho vua để ty hợp lòng người trong thiên hạ, tất không có cữu hại.”
- Tượng “Vương cư vô cữu, chính vị dã.” – "Tán phát của cải trong kho vua", hình tượng nói lên hào Chín Năm chính cư ngôi tôn của bậc “vương chủ”.

7. Chu kỳ 7 - Kỷ Mùi – Thiên Thủy Tụng, hào 5
- “Cửu Ngũ, tụng, nguyên cát.”
- “Chín Năm, xử kiện hay đi kiện đều hết sức tốt lành.”
- Tượng “Tụng nguyên cát, dĩ trung chính dã.” - Đây là tượng ở ngôi giữa giữ chính. Chín Năm là tượng “đại nhân quân chủ”, hợp với lời quẻ “lợi hiện đại nhân”, dẹp được mọi sự kiện cáo của chư hầu và muôn dân, khiến cho mọi người biết nhường nhau, mà yên được mọi tranh tụng.

8. Chu kỳ 8 - Kỷ Mùi – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 5
- “Cửu Ngũ, đồng nhân, tiên hào đào, nhi hậu tiếu, đại sư khắc tương ngộ”.
- “Chín Năm, hòa đồng với người, trước thì khóc lóc kêu rên, sau thì vui mừng cười reo, đánh lớn rồi báo tiệp, chí đồng rồi tương ngộ hội hợp.”
- Tượng “Đồng nhân chi tiên, dĩ trung trực dã” – "Hòa đồng, trước thì khóc lóc kêu rên", hình tượng này nói lên hào Chín Năm trung chính, chân thành thẳng thắn. “Đại sư tương ngộ, ngôn tương khắc dã” - "Phải đến khi đại quân xuất chiến, mới tương ngộ hội hợp với kẻ chí đồng", nói lên hào Chín Năm cùng với kẻ địch giao chiến và đã chiến thắng.

Kỷ Dậu

1. Chu kỳ 1 - Kỷ Dậu – Thuần Ly, hào 4
- “Cửu Tứ, đột như kì lai như, phần như, tử như, khí như.”
- “Chín Bốn, đột nhiên hiện lên ráng bình minh đỏ rực, giống như ngọn lửa mạnh đang thiêu đốt, nhưng chỉ trong phút chốc sẽ bị tiêu tán, diệt vong, bị vứt bỏ trạch trơn.”
- Tượng “đột như kì lai như, vô sở dụng dã” – "Cái hư thế của hào Chín Bốn", hình ảnh này tất sẽ làm cho hào Chín Bốn không nơi phụ bám, chứa chấp.

2. Chu kỳ 2 - Kỷ Dậu - Hỏa Sơn Lữ, hào 4
- “Cửu Tứ, lữ vu xử, đắc kỳ tư phủ, ngã tâm bất khoái.”
- “Chín Bốn, kẻ lữ khách chưa được yên ổn tại nơi ở tạm, như được búa sắc chặt bỏ gai góc, nhưng trong long ta chẳng sướng.”
- Tượng “Lữ vu xử, vị đắc vị dã” – ý nói hào Chín Bốn chưa thể được ở ngôi chính đáng.

3. Chu kỳ 3 - Kỷ Dậu – Hỏa Phong Đỉnh, hào 4
- “Cửu Tứ, giải nhi mẫu, bằng chí tư phu.”
- “Chín Bốn, lìa bỏ kẻ tiểu nhân dính bám, giống như thư giải cái tật kín ở ngón chân cái anh, sau đó bạn bè mới tới mà ứng với lòng thành tín.”
- Tượng “Giải nhi mẫu, vị đáng vị dã” – nói lên ngôi của hào Chín Bốn còn chưa thỏa đáng.

4. Chu kỳ 4 - Kỷ Dậu – Hỏa Thủy Vị tế, hào 4
- “Cửu Tứ, chinh cát, hối vong ; chấn dụng phạt Quỷ Phương, tam niên hữu thưởng vu đại quốc.”
- “Chín Bốn, giữ vững chính bền thì được tốt lành ; đánh nước Quỷ Phương với uy thế mạnh mẽ, qua ba năm chiến đấu công thành, được phong thưởng là chư hầu của nước lớn.”
- Tượng viết: “Trinh cát hối vong, chí hành dã” - "Giữ vững chính thì hối hận mất hết", nói lên hào Chín Bốn đang thực hiện chí cầu “tế”.

5. Chu kỳ 5 - Kỷ Dậu – Sơn Thủy Mông, hào 4
- “Lục Tứ, khốn mông, lận.”
- “Sáu Bốn, khốn vì tăm tối, có sự hối tiếc.”
- Tượng “Khốn mông chi lận, độc viễn thực dã.” - "Hối tiếc do khốn vì tăm tối', ý tượng nói lên hào Sáu Bốn cách xa “mông sư” cứng, khỏe, vững.

6. Chu kỳ 6 - Kỷ Dậu – Phong Thủy Hoán, hào 4
- “Lục Tứ, hoán kỳ quần, nguyên cát ; hoán hữu khâu, phỉ di sở tư.”
- “Sáu Bốn, giải tán bè phái, hết sức tốt lành ; giải tán một quần tụ nhỏ để thành một quần tụ lớn như gò đống, đó là điều người thường không thể nghĩ tới được.”
- Tượng “Hoán kỳ quần, nguyên cát, quang đại dã.” - "Giải tán bè phái hết sức tốt lành", ý nói lên phẩm đức của hào Sáu Bốn quang minh chính đại.

7. Chu kỳ 7 - Kỷ Dậu – Thiên Thủy Tụng, hào 4
- “Cửu Tứ, bất khắc tụng ; phục tức mệnh, du, an trinh cát.”
- “Chín Bốn, đi kiện thì không có lợi ; nên hồi tâm quay về với chính đạo, nên đổi ý đi kiện đi, an thuận mà giữ chính bền thì được tốt lành.”
- Tượng “Phục tức mệnh, du, an trinh bất thất dã.” – "Nên hồi tâm quay về với mệnh", đây là hình tượng Chín Bốn an thuận, giữ vững chính bền để không bị tổn thất. Người ta chỉ vì không muốn yên với mệnh, mà lấy sức mạnh của mình để đi kiện.

8. Chu kỳ 8 - Kỷ Dậu – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 4
- “Cửu Tứ, thừa kỳ dung, phất khắc công, cát.”
- “Chín Bốn, cưỡi lên tường thành rồi lại lui không dám tiến công, tốt lành.”
- Tượng “Thừa kỳ dung, nghĩa phất khắc dã” - "Cưỡi lên tường thành", ý hình tượng nói lên hào Chín Ba muốn hòa đồng với mọi người, thì không thể nghĩ tới chuyện tiến công được ; “kỳ cát, tắc khốn nhi phản tắc dã” – "Có được sự tốt lành", là do ở thời khốn hãm không thông, nhưng biết quay ngược trở lại mà tuân theo phép tắc.

Kỷ Hợi

1. Chu kỳ 1 - Kỷ Hợi – Thuần Ly, hào 3
- “Cửu Tam, nhật trắc chi ly, bất cổ phẫu nhi ca, tác đại điệt chi ta, hung.”
- “Chín Ba, mặt trời sắp lặn, ngả dần “bám” về phía trời tây, lúc này nếu không gõ vò, vui vẻ ca hát tự vui, tất sẽ than thân già nua, ốm yếu, có hung hiểm.”
- Tượng "Nhật trắc chi ly, hà khả cữu dã” – "Mặt trời ngả dần bám về phía trời Tây", ý hình tượng nói tình trạng này thì làm sao mà giữ cho được lâu dài !

2. Chu kỳ 2 - Kỷ Hợi - Hỏa Sơn Lữ, hào 3
- “Cửu Tam, lữ phần kỳ thứ, táng kỳ đồng bộc, trinh lệ.”
- “Chín Ba, kẻ lữ khách (quá cứng nóng vội), bị cháy nhà trọ, lạc mất đầy tớ ; nên giữ vững chính bề đề phòng hung hiểm.”
- Tượng “Lữ phần kỳ thứ, diệc dĩ thương hỹ ; dĩ lữ dữ hạ, kỳ nghĩa táng dã” - "Bị cháy nhà trọ", ý hình tượng nói cũng do vậy mà hào Chín Ba bị tổn thương ; "Kẻ lữ khách mà chuyên gia ơn cho kẻ dưới", đây là hiện tượng tất nhiên sẽ dẫn đến táng vong.

3. Chu kỳ 3 - Kỷ Hợi – Hỏa Phong Đỉnh, hào 3
- “Cửu Tam, đỉnh nhĩ cách, kỳ hành tắc ; phương vũ khuy hối, chung cát.”
- Chín Ba, tai vạc đang bị biến dạng, chỗ xỏ gậy để khênh ở tai vạc bị tịt ; món trĩ hầm thơm ngon, tinh khiết chưa đem ra cho người ăn được, đợi đến khi có trận mưa dầm âm dương điều hòa, tất sẽ không còn hối hận nữa, về cuối sẽ được tốt lành.”
- Tượng “Đỉnh nhĩ cách, thất kỳ nghĩa dã” – "Tai vạc bị biến dạng", ý hình tượng nói lên hào Chín Ba mất sự thích nghi ở khoảng trống giữa.

4. Chu kỳ 4 - Kỷ Hợi – Hỏa Thủy Vị tế, hào 3
- “Lục Tam, vị tế, chinh hung, lợi thiệp đại xuyên.”
- “Sáu Ba, việc chưa thành, đã vội tiến lên tất có hung hiểm, nhưng lợi về sự vượt qua sông cả sóng lớn để thoát khỏi hiểm nạn.”
- Tượng viết: “Vị tế chinh hung, vị bất đáng dã” - "Việc chưa thành đã vội tiến lên tất có hung hiểm", ý tượng nói lên ngôi vị của hào Sáu Ba không thích đáng.

5. Chu kỳ 5 - Kỷ Hợi – Sơn Thủy Mông, hào 3
- “Lục Tam, vật dụng thủ nữ, kiến kim phu, bất hữu cung, vô du lợi.”
- “Sáu Ba, không nên lấy người con gái này, trong mắt cô ta chỉ thấy người chồng đẹp mã thôi, không biết giữ mình, lấy cô ta không có lợi gì hết.”
- Tượng “Vật dụng thủ nữ, hạnh bất thuận dã.” – Không nên lấy người con gái này, nói lên Sáu Ba có đức hạnh không hợp với lễ tiết.

6. Chu kỳ 6 - Kỷ Hợi – Phong Thủy Hoán, hào 3
- “Lục Tam, hoán kỳ cung, vô hối.”
- “Sáu Ba, tan lìa thân mình (phụ theo hào dương cứng ở ngôi cao), không có gì phải hối hận.”
- Tượng “Hoán kỳ cung, chí tại ngoại dã.” – "Lìa tan thân mình", ý hình tượng nói lên ý chí của hào Sáu Ba phát triển ra bên ngoài.

7. Chu kỳ 7 - Kỷ Hợi – Thiên Thủy Tụng, hào 3
- “Lục Tam, sư hoặc dư thi, hung.”
- “Sáu Ba, quân chốc chốc phải trở xác về, có hung hiểm.”
- Tượng “Sư hoặc dư thi, đại vô công dã.” - "Phải trở xác về", đây là hình tượng hào Sáu Ba không thể có chiến công.

8. Chu kỳ 8 - Kỷ Hợi – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 3
- “Cửu Tam, phục nhung vu mãng, thăng kỳ cao lăng, tam tuế bất hưng.”
- “Chín Ba, phục binh giữa nơi rừng rậm, thỉnh thoảng lên gò cao trông ngóng, qua ba năm cũng không dám dấy binh giao chiến.”
- Tượng “Phục nhung vu mãng, địch cương dã” - "Phục binh giữa nơi rừng rậm", hình tượng này nói lên hào Chín Ba phía trước có địch cứng mạnh. “Tam tuế bất hưng, an hành dã” - "Trải qua ba năm cũng không dám dấy binh", làm sao dám mạo muội tiến quân ?

Kỷ Sửu

1. Chu kỳ 1 - Kỷ Sửu – Thuần Ly, hào 2
- “Lục Nhị, hoàng ly, nguyên cát.”
- “Sáu Hai, giữ được sắc vàng trung chính phụ bám vào vật, cực tốt.”
- Tượng “Hoàng ly nguyên cát, đắc trung đạo dã” – ý nói hào Sáu Hai đạo hợp giữa không lệch.

2. Chu kỳ 2 - Kỷ Sửu - Hỏa Sơn Lữ, hào 2
- “Lục Nhị, lữ tức thứ, hoài kỳ tư, đắc đồng bộc, trinh.”
- “Sáu Hai, kẻ lữ khách thuê ở nơi quán trọ, giữ được tiền bạc, lại có đầy tớ, nên giữ vững chính.”
- Tượng “Đắc đồng bộc trinh, chung vô vưu dã” – hào Sáu Hai cuối cùng sẽ không có gì phải quá oán.

3. Chu kỳ 3 - Kỷ Sửu – Hỏa Phong Đỉnh, hào 2
- “Cửu Nhị, đỉnh hữu thực ; ngã cừu hữu tật, bất khả năng tức, cát.”
- “Chín Hai, trong vạc chứa đầy vật phẩm ; người phối ngẫu với ta, thân có tật bệnh, tạm thời không đến làm tăng gánh nặng cho ta, tốt lành.”
- Tượng “Đỉnh hữu thực, thận sở chi dã ; ‘ngã cừu hữu tật’, chung vô vưu dã” – "Trong vạc chứa đầy vật phẩm", ý nói rằng Chín Hai phải cẩn thận khi đi lên ; "người phối ngẫu với ta thân có tật bệnh", nói lên hào Chín Hai tạm thời chưa ứng được với hào Sáu Năm, cuối cùng không có điều gì phải trách cứ.

4. Chu kỳ 4 - Kỷ Sửu – Hỏa Thủy Vị tế, hào 2
- “Cửu Nhị, duệ kỳ lân, trinh cát.”
- “Chín Hai, kéo ngược bánh xe về phía sau (để không đi mạnh), giữ vững chính bền thì được tốt lành.”
- Tượng viết: “Cửu Nhị trinh cát, trung dĩ hành chính dã” – "Chín Hai giữ vững được tốt lành”, nói lên hào Chín Hai phải giữ giữa, mà việc làm phải đoan chính không lệch.

5. Chu kỳ 5 - Kỷ Sửu – Sơn Thủy Mông, hào 2
- “Cửu Nhị, bao mông, cát. Nạp phụ, cát ; tử khắc gia.”
- “Chín Hai, được trẻ nhỏ vậy quanh, tốt lành. Như đón được người vợ hiền thục đẹp đẽ về nhà, tốt lành ; lại như người con coi sóc được việc nhà.”
- Tượng “Tử khắc gia, cương nhu tiếp dã.” - "Người con coi sóc được việc nhà", nói lên hào Chín Hai dương cứng ứng với hào Sáu Năm âm mềm.

6. Chu kỳ 6 - Kỷ Sửu – Phong Thủy Hoán, hào 2
- “Cửu Nhị, hoán bôn kỳ kỷ, hối vong.”
- “Chín Hai, ở thời lìa tan chạy đến (hào đầu), coi như ghế tựa để làm nơi dựa, hối hận sẽ mất hết.”
- Tượng “Hoán bôn kỳ kỷ, đắc nguyện dã.” - "Ở thời lìa tan coi hào Đầu để làm nơi dựa (mà không dám “dẫm”)", nói lên hào Chín Hai do âm dương tụ hợp được với nhau, nên toại nguyện.

7. Chu kỳ 7 - Kỷ Sửu – Thiên Thủy Tụng, hào 2
- “Cửu Nhị, bất khắc tụng, quy nhi bô, kỳ ấp nhân tam bách hộ, vô sảnh.”
- “Chín Hai, kiện tụng thì không lợi, lui về mà tránh đi, đó là một ấp nhỏ có ba trăm hộ, ở đấy thì không gặp họa hoạn.”
- Tượng “Bất khắc tụng, quy bô thoán dã ; Tự hạ tụng thượng, hoạn chí xuất dã.” – "Kiện tụng thì không lợi", ý tượng nói hào Chín Hai ở ngôi dưới mà kiên tụng bậc tôn thượng thì tai nạn đến. "Nhưng nếu kịp thời tránh đi thì lại hết nạn ngay", nghĩa của “tranh tụng” là ở chỗ thấy thôi được thì nên thôi đi, Chín Hai được “vô sảnh” là ở chỗ dương cứng có thể giữ được đạo trung.

8. Chu kỳ 8 - Kỷ Sửu – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 2
- “Lục Nhị, đồng nhân vu tông, lận.”
- “Sáu Hai, hòa đồng với mọi người trong họ, có sự đáng tiếc.”
- Tượng “Đồng nhân vu tông, lận đạo dã” – "Hòa đồng với người trong họ, dẫn tới sự đáng tiếc", đây là hình tượng biểu thị về bè đảng.

Kỷ Mão

1. Chu kỳ 1 - Kỷ Mão – Thuần Ly, hào 1
- "Sơ Cửu, lý thác nhiên, kính chi, vô cữu.”
- “Chín Đầu, làm việc cẩn trọng không cẩu thả, giữ thái độ cung kính, cẩn thận thì tất không tội lỗi.”
- Tượng “lý thác chi kính, dĩ tị cữu dã” – Ý tượng nói hào Sáu Đầu có như vậy mới tránh được tội lỗi.

2. Chu kỳ 2 - Kỷ Mão - Hỏa Sơn Lữ, hào 1
- “Sơ Lục, lữ tỏa tỏa, tư kỳ sở thủ tai.”
- “Sáu Đầu, người lữ khách ngay từ đầu đã có hành động nhỏ nhen, ti tiện, ấy là tự chuốc lấy họa.”
- Tượng “Lữ tỏa tỏa, chí cùng tai dã” – "Ngay từ đầu đã có hành động nhỏ nhen ti tiện", nói lên hào Sấu Đầu ý chí quẫn bách, tự chuốc lấy tai họa.

3. Chu kỳ 3 - Kỷ Mão – Hỏa Phong Đỉnh, hào 1
- “Sơ Lục, đỉnh điên chỉ, lợi xuất bĩ ; đắc thiếp dĩ kỳ tử, vô cữu.”
- “Sáu Đầu, vạc đổ chổng chân, lợi về sự đổ đồ phế bỏ ; như lấy được người thiếp sinh ra con, đỡ đần người vợ cả, tất không cữu hại.”
- Tượng “Đỉnh điên chỉ, vị bội dã ; ‘lợi xuất bĩ’ dĩ tòng quý dã” - "Vạc đổ chổng chân", tượng nói như vậy thì vị tất đã là trái lý ; "Lợi về sự đổ đồ phế bỏ", nói lên Sáu Đầu nên theo lên với bậc tôn quý (đợi đưa vật phẩm mới vào). Thải đồ phế bỏ để nhận vật mới.

4. Chu kỳ 4 - Kỷ Mão – Hỏa Thủy Vị tế, hào 1
- “Sơ Lục, nhu kỳ vỹ, lận.”
- “Sáu Đầu, cáo nhỏ qua sông bị nước làm ướt đuôi, đáng thẹn tiếc.”
- Tượng viết: “Nhu kỳ vỹ, diệc bất chi cực dã” – “Cáo nhỏ qua sông bị nước làm ướt đuôi”, nói lên hào Sáu Đầu rất không biết cẩn thận giữ giữa.

5. Chu kỳ 5 - Kỷ Mão – Sơn Thủy Mông, hào 1
- “Sơ Lục, phát mông, lợi dụng hình nhân, dụng thoát chất cốc ; dĩ vãng lận.”
- “Sáu Đầu, mở mang đầu óc, lợi ở chỗ tạo dựng ra khuôn mẫu để giáo dục người, khiến cho người ta không phạm tội ác ; nếu đi lên quá mức tất sẽ hối tiếc.”
- Tượng “Lợi dụng hình nhân, dĩ chính pháp dã.” - "Lợi ở chỗ tạo dựng ra khuôn mẫu để giáo dục người", là hình tượng để mọi người tuân theo các phép tắc đúng đắn.

6. Chu kỳ 6 - Kỷ Mão - Phong Thủy Hoán, hào 1
- “Sơ Lục, dụng chửng mã tráng cát.”
- “Sáu Đầu, nhờ con ngựa tốt mạnh gắng cứu vớt thì được tốt lành.”
- Tượng “Sơ Lục chi cát, thuận dã.” - "Sự tốt lành của Sáu Đầu", là do thuận với hào Chín Hai.

7. Chu kỳ 7 - Kỷ Mão – Thiên Thủy Tụng, hào 1
- “Sơ Lục, bất vĩnh sở sự ; tiểu hữu ngôn, chung cát.”
- “Sáu Đầu, không kéo dài việc kiện tụng, cố chựu chút ít điều tiếng về mình, cuối cùng sẽ được tốt lành.”
- Tượng “Bất vĩnh sở sự, tụng bất khả trường dã” – "Không kéo dài kiện tụng", ý tượng nói lên không thể để việc kiện kéo dài mãi không thôi ; "Tuy “tiểu hữu ngôn”, kỳ biện minh dã” - "Mặc dù chựu chút ít điều tiếng", nói lên hào Sáu Đầu nhờ có sự phân biện, mà cuối cùng mọi việc rõ ràng.

8. Chu kỳ 8 - Kỷ Mão – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 1
- “Sơ Cửu, đồng nhân vu môn, vô cữu.”
- “Chín Đầu, vừa ra khỏi cửa mà đã có thể hòa đồng ngay với người, tất vô cữu hại.”
- Tượng “Xuất môn đồng nhân, hựu thùy cữu dã” - "Vừa ra khỏi cửa mà đã hòa đồng ngay với người", thì còn ai có thể làm nguy hại được !

Đinh Tị

1. Chu kỳ 1 - Đinh Tị - Thuần Đoài, hào 1
- “Sơ Cửu, hòa duyệt, cát.”
- “Chín Đầu, dựu dàng, vui vẻ với người, tốt lành.”
- Tượng “hòa duyệt chi cát, hành vị nghi dã” – Ý tượng nói lên hành vi của hào Chín Đầu đứng đắn mà không bị người ta nghi kị.

2. Chu kỳ 2 - Đinh Tị - Trạch Thủy Khốn, hào 1
- “Sơ Lục, đồn khốn vu châu mộc, nhập vu u cốc, tam tuế bất dịch.”
- “Sáu Đầu, mông bị khốn ở dưới gốc cây, không thể ở yên, chỉ lui vào nơi sơn cốc u tối, ba năm không thấy ló mặt."
- Tượng “Nhập u vu cốc, u bất minh dã” - "Chỉ còn cách lui vào nơi sơn cốc u tối", Ý tượng nói lên hào Sáu Đầu ẩn thân tạm bợ nơi u ám, không sáng sủa.

3. Chu kỳ 3 - Đinh Tị - Trạch Địa Tụy hào 1
- “Sơ Lục, hữu phu bất chung, nãi loạn nãi tụy ; nhược hào, nhất ác vi tiếu: Vật tuất, vãng vô cữu”.
- “Sáu Đầu, nếu không giữ được đến cùng sự thành tín trong lòng, tất sẽ làm loạn mà tụ họp bừa bãi với mọi người ; nếu chuyên tình mà kêu gọi mọi người ở trên, thì có thể chỉ một cái bắt tay với người bạn dương cứng là lại vui cười được ngay: không phải lo nghĩ, đi lên tất không gặp họa hại”.
- Tượng “Nãi loạn nãi tụy, kỳ chí loạn dã” – "Làm loạn mà tụ họp bừa bãi với mọi người", nói lên tâm chí Sáu Đầu đang có hiện tượng mê loạn.

4. Chu kỳ 4 - Đinh Tị - Trạch Sơn Hàm, hào 1
- “Sơ Lục, hàm kỳ mẫu.”
- “Sáu Đầu, giao cảm ở ngón chân cái.”
- Tượng “Hàm kỳ mẫu, chí tại ngoại dã” – "Giao cảm ở ngón chân cái", nói lên chí hướng của Sáu Đầu phát triển ra phía ngoài.

5. Chu kỳ 5 - Đinh Tị - Thủy Sơn Kiển, hào 1
- “Sơ Lục, vãng kiển, lai dự.”
- “Sáu Đầu, tiến lên thì gian nan, trở lại ắt được khen.”
- Tượng “Vãng kiển lai dự, nghi đãi dã.” - "Tiến lên thì gian nan, trở lại thì được khen", nếu nói như vậy thì Sáu Đầu nên chờ đợi thời cơ.

6. Chu kỳ 6 - Đinh Tị - Địa Sơn Khiêm, hào 1
- “Sơ Lục, khiêm khiêm quân tử, dụng thiệp đại xuyên, cát.”
- “Sáu Đầu, người quân tử khiêm mà lại khiêm, sẽ có thể vượt qua sông cả sóng lớn, tốt lành.”
- Tượng “Khiêm khiêm quân tử, ti dĩ tự mục dã.” - "Người quân tử khiêm mà lại khiêm", ý nói hào Sáu Đầu lấy sự khiêm tốn để chế ước bản thân.

7. Chu kỳ 7 - Đinh Tị - Lôi Sơn Tiểu quá, hào 1
- “Sơ Lục, phi điểu dĩ hung.”
- “Sáu Đầu, chim bay nghịch thế hướng lên trên sẽ có hung hiểm.”
- Tượng “Phi điểu dĩ hung, bất khả như hà dã.” – "Bay nghịch thế hướng lên trên", đây là hiện tượng Sáu Đầu tự chuốc lấy hung cữu, khó bề giải cứu.

8. Chu kỳ 8 - Đinh Tị - Lôi Trạch Quy muội, hào 1
- “Sơ Cửu, quy muội dĩ đệ, phả năng lý, chinh cát.”
- “Chín Đầu, người con gái về nhà chồng làm vợ lẽ, chân thọt mà cố gắng đi được, tiến lên thì được tốt lành.”
- Tượng “Quy muội dĩ đệ, dĩ hằng dã” – "Con gái về nhà chồng làm vợ lẽ", đây là lẽ thường của việc hôn thú. “Phả năng lý, cát tương thừa dã” – "Chân thọt mà cố gắng đi", nói lên sự tốt lành của hào Chín Đầu là ở chỗ giúp đỡ người vợ cả chăm sóc chồng. Chân tuy lệch nhưng có thể dẫm đất mà đi, không đến nỗi tàn phế.

Đinh Mùi

1. Chu kỳ 1 - Đinh Mùi – Thuần Đoài, hào 6
- “Thượng Lục, dẫn đoài.”
- “Sáu Trên, dụ dỗ người ta cùng vui.”
- Tượng “Thượng lục dẫn đoài, vị quang dã” – ý tượng nói hào Sáu Trên đạo vui vẻ chưa thể sáng lớn.

2. Chu kỳ 2 - Đinh Mùi - Trạch Thủy Khốn, hào 6
- “Thượng Lục, khốn vu cát lũy, vu niết ngột ; viết động hối hữu hối, chinh cát.”
- “Sáu Trên, bị khốn trong đám sắn dây chằng chịt, lại bị khốn ở nơi lung lay nghiêng ngả, nên suy nghĩ một chút ; đã động rồi sau hối thì sẽ biết hối ngay, như vậy nếu đi lên tất được tốt lành."
- Tượng “Khốn vu cát lũy, vị đáng dã ; ‘động hối hữu hối’, cát hành dã” - "Khốn trong đám sắn dây", nói lên địa vị của Sáu Trên chưa từng ổn đáng. "Làm rồi sau mới hối", nói lên cứ làm ngay đi thì có thể giải trừ khốn mà được tốt lành.

3. Chu kỳ 3 - Đinh Mùi – Trạch Địa Tụy, hào 6
- “Thượng Lục, tê tư thế di, vô cữu.”
- “Sáu Trên, ta thán buồn than, lại đau đớn khóc lóc nước mắt nước mũi dàn dụa, có thể tránh được cữu hại.”
- Tượng “Tê tư thế di, vị an thượng dã” - "Buồn than, lại đau đớn khóc lóc", nói lên hào Sáu Trên mong “tụ” không được, chưa thể ở yên tại ngôi trên cùng.

4. Chu kỳ 4 - Đinh Mùi – Trạch Sơn Hàm, hào 6
- “Thượng Lục, hàm kỳ phụ giáp thiệt.”
- “Sáu Trên, cảm bằng lời nói.”
- Tượng viết: “Hàm kỳ phụ giáp thiệt, đằng khẩu thuyết dã” – “Cảm bằng lời nói”, ý nói lên hào Sáu Trên chẳng qua được tâng bốc lên bởi những lời rỗng tuếch mà thôi.

5. Chu kỳ 5 - Đinh Mùi - Thủy Sơn Kiển, hào 6
- “Thượng Lục, vãng kiển, lai thạc ; cát, lợi hiện đại nhân.”
- “Sáu Trên, đi lên thì gian nan, quay lại có thể lập công lớn ; tốt lành, lợi về sự xuất hiện đại nhân.”
- Tượng “Vãng kiển lai thạc, chí tại nội dã ; lợi hiện đại nhân, dĩ tòng quý dã.” – "Đi lên thì gian nan", nói lên chí hướng của Sáu Trên là liên hợp bên trong cùng nhau vượt gian nan ; "Lợi về sự xuất hiện đại nhân", nói lên Sáu Trên nên theo giúp bậc quân chủ dương cứng tôn quý.

6. Chu kỳ 6 - Đinh Mùi - Địa Sơn Khiêm, hào 6
- “Thượng Lục, minh khiêm, lợi dụng hành sư, chinh ấp quốc.”
- “Sáu Trên, tiếng tăm lừng lẫy về đức “khiêm”, có thể lợi dụng điều đó mà đem quân đi đánh, chinh phạt các nước nhỏ ở gần.”
- Tượng “Minh khiêm, chí vị đắc dã ; khả dụng hành sư, chinh ấp quốc dã.” – "Danh tiếng lừng lẫy về đức khiêm", là nói chí Sáu Trên chưa hoàn toàn thực hiện được ; "Có thể đem quân đi đánh", là nói chỉ đi đánh các đô ấp gần xung quanh.

7. Chu kỳ 7 - Đinh Mùi – Lôi Sơn Tiểu quá, hào 6
- “Thượng Lục, phất ngộ quá chi ; phi điểu li chi, hung, thị vị tai sảnh.”
- “Sáu Trên, không thể gặp được dương cứng mà lại càng vượt quá dương cứng ; chính là giôpngs như con chim bay (bay không ngừng) bị tên bắn hạ giết, có hung hiểm, như vậy gọi là tai ương họa hoạn.”
- Tượng “Phất ngộ quá chi, dĩ khang dã.” – "Không thể gặp được dương cứng mà lại càng vượt quá dương cứng", nói lên tượng hào Sáu Trên ở nơi cao cùng cực. Lúc này là lúc quá cực, không thể tự giữ mà cứ theo như tập quán thói quen, cho nên đến nỗi vậy. Hung là do mình làm, “tai vạ” là do từ ngoài tới.

8. Chu kỳ 8 - Đinh Mùi – Lôi Trạch Quy muội, hào 6
- “Thượng Lục, nữ thừa khuông, vô thực ; sỹ khuê dương, vô huyết, vô du lợi.”
- “Sáu Trên, người con gái tay xách giỏ tre, không có gì ở trong ; người con trai cầm dao giết dê, không thấy máu: (vợ chồng làm lễ không thành), không có gì lợi.”
- Tượng “Thượng Lục vô thực, thừa hư khuông dã” – Sáu Trên giữa rỗng, không đặc, như tay xách chiếc giỏ tre rỗng không. Ngôi cùng cực, như em gái ở ngôi quá cao, không kẻ nào đi theo được, ý “vật cực tắc phản” để răn quy muội. Trước “nữ” sau “sỹ”, lỗi là ở vợ.