Hiển thị các bài đăng có nhãn Khảo tập. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khảo tập. Hiển thị tất cả bài đăng

Thiên Nhân chi tế


Tận cùng sự quan hệ Thiên Nhân

      Không đặt vấn đề về "Thiên Nhân chi tế", thì không phải là tìm hiểu về Huyền Đạo của Đông Phương học. Trong các phạm trù, thì Thiên là một phạm trù có ngoại diện cực kỳ rộng, với nội hàm phong phú, Thiên được giải thích khác nhau tùy theo từng học phái triết học, kể cả từng nhà triết học trong cùng một học phái.
      Tùy theo các nhà triết học của từng thời kỳ khác nhau, có sự giải thích khác nhau với nội hàm đa nguyên về phạm trù Thiên, thì đối với những người mới bắt đầu tìm hiểu về Huyền Đạo, thì phạm trù về Thiên giống như 'ma quái', khó lòng nắm bắt được, và thường nảy sinh ngộ nhận.

      Thiên là cái bản nguyên ở trên tự nhiên, chính là chỗ dựa cho trời đất vạn vật tồn tại. Thiên với tư cách là cái ở trên tự nhiên, với tính trừu tượng phổ biến của nó, với đặc tính vô hình vô tượng, và cả với tính dĩ nhiên đương nhiên như thế của nó. 
      Đặc trưng trọng yếu nhất của Thiên, đó chính là "vô vi"; Tự nhiên nhi nhiên của Thiên là chân tính vô vi của Thiên. Không làm gì cả lại là không cái gì không làm; như Thiên không làm việc bao che vạn vật, mà lại có thể bao che hết thảy vạn vật; Người không nuôi nấng ai, mà mọi người trong thiên hạ đều được nuôi nấng đầy đủ, đó là tự nhiên nhi nhiên.
      Cho nên nói, Thiên lấy "vô vi" làm Thể, lấy "vô vi" làm Dụng. Vô vi là tương đối với hữu vi mà nói, tự nhiên nhi nhiên là tương đối với phi tự nhiên nhi nhiên mà nói. Thiên là khoảng không tự nhiên vô cùng vô tận.
      Thiên với tư cách thực thể có thật, thì bản thân nó có quy tắc và trật tự biến hóa cố hữu, đó chính là lẽ "vĩnh hằng của Thiên" (Thiên thường), trong khoảng không tự nhiên này, vạn vật được sinh được dưỡng. Do tính chất và đặc điểm cơ bản của Thiên là "tự nhiên vô vi", cho nên Đạo của Thiên là lợi mà không hại, con người noi theo Thiên đạo mà bỏ cái thừa thêm cái không đủ, con người không thể đi ngược lại Thiên đạo bớt cái không đủ để cung phụng cho cái thừa.

Hợp số Thiên - Nhân, biến mà thông

       Thiên Nhân tương thắng tương dụng.

      "Lấy bề ngoài quan sát Thiên thì nói: Càn nên kiện, tự nhiên cao như thế. Lấy số mà quan sát Thiên thì nói: tác dụng của Thiên có 49, Thiên quả là hữu hình nhưng không thoát khỏi Số, làm ra hình tượng để làm cái vỏ, người xưa nói Thần tạo vật không phải là lời nói suông".
      [Dĩ mạo khuy Thiên giả viết: Càn nhiên kiện, đơn vu nhiên nhi cao. Dĩ số ngưỡng Thiên giả viết: kỳ dụng tứ thập hữu cửu. Thiên quả dĩ hữu hình nhi bất năng thoát hồ số, lập Tượng dĩ suy Giáp, ký thành nhi di chi, cổ sở vị thần giao tạo vật giả, phi không ngôn nhĩ.]
      Không phải chỉ quan sát hiện tượng bên ngoài của Thiên, mà tiến sâu đến khảo sát mối quan hệ giữa 'độ' và 'lượng' của Thiên, từ hình tượng của sự - vật, tiến sâu vào nội bộ của sự - vật, đó chính là 'thần giao tạo vật, phi không ngôn' (nói thần tạo ra Vật không phải là lời nói trống rỗng), không phải chỉ nói đại khái, khơi khơi bên ngoài, mà phải thâm nhập vào bản chất của cái tạo hóa, thậm chí phải nắm bắt được cái thần bí của nó vậy.
      Dùng cái vỏ Càn Khôn, Số của mười kỳ, tập trung chỗ thần diệu vận dụng đường hướng, trên cảm với mọi tầng lớp chồng chất. Xem tích tụ của huyền hoàng, không đầu mối mà có thường hằng, hiểu biết cặn kẽ, riêng dùng thần thể hội, Số bắt đầu từ hào dương thứ nhất quẻ Phục, âm sinh từ Cung của ống sáo, tích tụ ẩn tàng, nói về hóa hợp số của Thiên - Nhân, cùng cực thì bao hàm biến, biến thì thông tất cả, thần hầu quỷ đuổi không đủ sợ.
      [Dĩ Càn Khôn chi Giáp, đương thập kỳ chi số, ngưng thần vận chỉ, thượng cảm triền thứ. Thị huyền hoàng minh chỉ, vô nghê hữu thường, tuyệt cơ mẫn chi, độc dĩ thần hội, số khởi ư Phục chi Sơ cửu, âm sinh hồ hoàng chung chi cung, tích trưng tốt ẩn, ngôn dữ hóa hợp hồ Thiên Nhân chi số, cực nhi hàm biến, biến nhi mị bất thông, thần xu quỷ nhiếp, bất túc hãi dã.]

Giáp: có cuối ắt có đầu

        乾元用九,乃見 天 則, 天下治也 。

        Kiền nguyên dụng cửu, nãi kiến thiên-tắc, thiên-hạ trị dã.

      Trong Đạo Càn Khôn mà biết dùng hào dương, thì thấy được phép tắc của trời, thời bình trị được thiên hạ.

        Dịch viết: "Trời 1 đất 2, trời 3 đất 4, trời 5 đất 6, trời 7 đất 8, trời 9 đất 10"

        Tiêu Lâm trực nhật - Tiêu Diên Thọ nói: "Giáp 1 Ất 2, Giáp 3 Đinh 4, Giáp 5 Kỷ 6, Giáp 7 Tân 8, Giáp 9 Quý 10".

        Họ Tiêu lại nói: "Ất 1 Giáp 2, Ất 3 Bính 4, Ất 5 Mậu 6, Ất 7 Canh 8, Ất 9 Nhâm 10"

        Dịch - quẻ Lâm - Lời quẻ nói: "Chí vu bát nguyệt hữu hung".

        Ngài Tiêu Diên Thọ bảo rằng: từ cung Hợi - Tý - Sửu - Dần, quái Khôn đi ra mà làm chủ bên ngoài. Từ cung Tị - Ngọ - Mùi - Thân, thì quái Càn làm chủ bên ngoài. Cung Mão - Tuất hai quái Chấn - Cấn làm chủ bên ngoài. Cung Thìn - Dậu thì quái Đoài làm chủ cung Thìn ở bên ngoài - quái Tốn làm chủ cung Dậu ở bên ngoài.
        Cha thì làm chủ 4 cung bên ngoài, Mẹ cũng làm chủ 4 cung bên ngoài, con cả và con út, mỗi đứa đều được làm chủ một cung, vậy còn hai con Khảm Ly thì giao cho chúng làm chủ cung nào đây ? Nay Dịch lại viết: "chí vu bát nguyệt hữu hung" là nghĩa làm sao ?
       Hào Sơ quẻ Càn thì "tiềm" thì "ẩn", hào Tứ quẻ Khôn thì "thắt" thì "khóa".  Học trò Kinh Phòng hỏi thầy Tiêu Diên Thọ: "Vây thì Lục hư theo với Lục Giáp như thế nào ?"
       Thầy Tiêu Diên Thọ giảng rằng: "Lấy Sơ - Tứ định lệ cho Lục tử mà ứng Lục hư. Theo đó thì Giáp Tý - Giáp Ngọ phối Sơ - Tứ hai quẻ Chấn - Tốn, Giáp Thìn - Giáp Tuất phối Sơ - Tứ hai quẻ Khảm - Ly. Giáp Thân - Giáp Dần phối Sơ - Tứ hai quẻ Cấn - Đoài".

        Kinh Phòng sáng ý về lời giảng của Thầy, quẻ Càn làm chủ 4 cung ở ngoài, tới cung Ngọ thì phối với quẻ Tốn bên trong mà được quẻ Thiên Phong Cấu. Dịch lại nói: "Chí vu bát nguyệt hữu hung", có nghĩa rằng, từ cung Ngọ khởi can Giáp, tới cung Sửu là cung thứ 8, thì ứng với can Tân, theo Đất mà phối được Tân Sửu. Cho nên, Kinh thị dịch truyện - Kinh Phòng nói: "Sửu Ngọ hại, Tân phối Tốn cung". 

        Kinh Phòng tự vấn rằng: "Chí của ta mà không theo, thì điềm hung họa như Dịch nói, liệu rằng 8 tháng nữa vẫn đến chăng ?"

        Nay ta theo để khảo tập vậy.

Giáp 1 - Canh 7

      Từ thời xa xưa, không biết từ thời điểm nào, cho tới ngày nay, cũng chưa biết đến bao giờ, sách Đạo Thư chỉ được soạn ra dành riêng cho Vua dùng, Hoàng Đế dùng. Khi xuống tới "Hội đồng quân cơ", thì tính chính xác và độ tin cậy thông tin ở trong sách Đạo Thư đã bị triết giảm, rồi xuống tới Tỉnh, Huyện, Xã, Thôn, Xóm.v.v... thì tính chính xác và độ tin cậy của thông tin ở trong sách còn bị triết giảm thêm nữa. Cũng có thể còn bị "man thư". Về vấn đề này không biết là "thực" hay "hư" ??? Cũng chẳng một ai xác minh, thật là kỳ lạ.

      Đổng Trọng Thư (179 - 104 tr.CN) cũng theo trường phái Quan học, toàn bộ sách về "Âm Dương gia" cũng không được lưu truyền. Rồi tới Kinh Phòng cũng soạn sách dâng Vua với lời lẽ nghiêm mật, rồi tới Trương Tải (1020 - 1077) triết gia thời Bắc Tống, cũng là người của trường phái Quan học, ...
rồi tới Thiệu Ung, ông có soạn tấu, viết sách chỉ dành riêng dâng trình lên Vua ? Tại sao Ông lại được Vua phong tặng danh hiệu ?

      Sự nghiêm mật của những sách nói về Thiên Cơ này, cũng chẳng biết là đúng hay sai !

      Cho nên, đâu đâu cũng chỉ thấy nói rằng: số trong Hà đồ là số sinh - thành của ngũ hành. Mà đâu có biết được rằng, số trong Hà đồ chính là số phản ánh quy luật chu kỳ của mặt Trời, thông qua từng quẻ Dịch trong 64 quẻ.

      Có mặt Trời, thì mới có Âm Dương vậy, có Âm Dương thì mới có Ngũ hành vậy. Vì vậy mà Thái cực sinh Một vậy, Một sinh 6 vậy, Sáu sinh 12 vậy, 12 sinh vạn vật vậy. Sao lại phân cách giữa phái Quan học với phái Dân học ? Tại sao trăm họ không được học về Âm Dương ? Phải chăng lỗi từ họ Đổng ! Hay từ vua Tần Thủy Hoảng !

      Dịch - quẻ Cổ - Lời quẻ nói: "Tiên Giáp tam nhật, hậu Giáp tam nhật".

      Khi xưa, ta còn mỏng manh thì hiểu rằng, trước can Giáp 3 ngày là can Bính, sau can Giáp ba ngày là can Quý. Rồi ta liền trở thành Giám đốc tự phong, và lập ngôn rằng: đây chẳng qua là nói về Chính ấn - Thực thần mà thôi. Thật là sai lầm tai hại khi tự phong mình làm Giám đốc, phải chăng là sự thèm khát Hóa quyền !

      Nay, ta có thêm chút tuổi, thì mới tự ngộ được rằng, Dịch nói "tiên - hậu" là chỉ về "ngôi thứ", hóa ra trước can Giáp 3 ngày là can Đinh, sau can Giáp ba ngày là can Tân.

      Can Giáp đứng ở đầu 10 can, là đầu mối của mọi sự mọi việc, của vạn vật trong trời đất. Ý nghĩa đầu tiên mà ta phải hiểu, đó là "có cuối ắt có đầu". Khi xưa, ngài Tiêu Diên Thọ lập thuyết, ông đề xuất Giáp chính là mặt Trời, khi phối ứng với Đất, mà thấy được đầu mối là từ Giáp Tý.

      Ngài Tiêu Diên Thọ nhận thấy rằng, Giáp Tý theo với hào Sơ quẻ Càn thì "tiềm" thì "ẩn", ứng hợp với hào Sơ quẻ Càn là hào Tứ quẻ Khôn, thì là "thắt" là "khóa". Ông hiểu rằng, đã là "tiềm", đã là "ẩn", thì ngài gọi là "độn Giáp"; đã là "thắt", đã là "khóa", thì ngài gọi là "độn Nhâm".

      Ngài tuân thủ theo những gì mà Dịch đã quy định, đó chính là quẻ Tốn. Lời hào Ngũ quẻ Tốn nói: "Tiên Canh tam nhật, hậu Canh tam nhật, cát", họ Tiêu đã đề xuất: lấy can Canh để tượng trưng cho sự "canh cải", "biến canh", để chỉ về sự thay đổi vậy. Nhưng trước Canh ba ngày là can Quý, sau Canh ba ngày là can Đinh, họ Tiêu nhận thấy sự trùng lập của can Giáp và Canh đều ở ngôi vị can Đinh. Khi Giáp thống lĩnh dẫn đầu, thì can Đinh ở ngôi vị số 4, Ông thấy thật khó hiểu ???

      Căn cứ vào Lời quẻ Cổ, cùng với Lời hào Ngũ quẻ Tốn, họ Tiêu đề xuất và xây dựng thuyết về can Giáp: "có cuối ắt có đầu", và từ can Canh: "không có đầu mà lại có cuối".

      Lời quẻ Phục nói: "thất nhật lai phục", rồi Lời hào Nhị quẻ Chấn nói: "thất nhật đắc"

      Ta chưa hiểu Ông sẽ xây dựng học thuyết cho mình như thế nào !