Tăng Tử ốm nặng sắp chết, Mạnh Kính Tử đến thăm. Tăng Tử nói với Mạnh Kính Tử rằng:
"Con chim sắp chết, tiếng kêu đau thương ; con người sắp chết, lời nói rất thực".
Tiếp đó, Tăng Tử dặn dò: " Người quân tử giữ đạo lý, nên đặc biệt coi trọng ba điều:
- Cử chỉ, dung mạo điềm đạm, dáng điệu khoan thai đàng hoàng, sẽ giữ cho bản thân mình tránh được thô bạo và phóng túng.
- Giữ sắc mặt đoan trang sẽ giúp cho mình giữ được chân thật và thành thực với mọi người.
- Nói năng chú ý giữ cho được điệu bộ, giọng điệu, sẽ tránh được cho mình sự thô bỉ và sai sót.
Còn đối với việc lễ tang và lễ nghĩa khác, thì đã có quan sứ chủ quản về mặt này quản lý và chủ trì rồi, mình khỏi phải quan tâm ".
Bình luận
Tăng Tử nói:
" Con chim sắp chết tiếng kêu đau thương ; con người sắp chết lời nói rất thực ".
Một người sắp chết là sắp đi hết lịch trình của cuộc đời. Lúc này, mọi hăng hái, khẳng khái không còn nữa ; ghen ghét, đố kỵ cũng tiêu tan ; mọi đấu tranh với người đều dừng lại ; tất cả mọi đau khổ và phiền muội đều trở thành quá khứ.
Ai cũng vậy: cuộc đời ba chìm bảy nổi, bãi bể cồn dâu đã trải, mặn ngọt đắng cay đã từng, lúc gần đất xa trời lại càng thấm sâu hiểu rõ hơn giá trị cuộc đời, cho nên lời nói tất thực.
Ba lời dặn dò của Tăng Tử là tổng kết kinh nghiệm cuộc đời của Tăng Tử. Ở mỗi một con người, ý thức tư tưởng, thế giới tinh thần là một tầng thứ ; dung mạo thể hiện ra ngoài là một tầng thứ khác ; còn khi giao tiếp giao lưu nói chuyện, điệu bộ, động tác biểu hiện lại là một tầng thứ khác nữa.
Ba tầng thứ này kết hợp và hỗ trợ cho nhau, nói lên sự thống nhất giữa nội tâm và hình thức, giữa trong và ngoài. Tư tưởng được biểu hiện bằng cử chỉ, sắc mặt, lời nói. Cho nên, rèn luyện cử chỉ, sắc mặt và lời nói chính là rèn luện tư tưởng vậy.
Quan sát nét mặt của một người thì có thể biết tư tưởng của người ấy; quan sát hành vi của một người thì có thể biết nội tâm của người đó; Như vậy chẳng đúng sao ?
Rèn luyện cử chỉ dung mạo điềm đạm, dáng điệu khoan thai, ung dung, từ tốn, đàng hoàng, thì sẽ không làm cho tư tưởng của mình nóng vội, hấp tấp, về hành động cũng không thô bạo, bừa bãi, phóng túng hoặc quá đáng.
Rèn luyện sắc mặt đoan trang, đoan chính, thì về mặt tư tưởng sẽ không sinh ra quỷ kế hại người, về mặt hành động cũng không để xẩy ra lừa dối người, làm mất chữ tín.
Rèn luyện kỹ năng nói dùng từ chuẩn xác, giọng điệu ôn hòa, thì trong lòng sẽ không sinh ra oán hận, giận dữ, nhờ vậy mà không để xẩy ra thô bỉ, vô lễ.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luận Ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Luận Ngữ. Hiển thị tất cả bài đăng
LUẬN NGỮ - Chương 2 - Tiết 15
Chương 2
VI CHÍNH
Tiết 15: Khổng Tử nói:
" Dám mạnh dạn đấu tranh phê bình chỉ trích tệ hại thói hư tật xấu thì tự nhiên họa hại sẽ tiêu tan ".
Bình luận:
Trong mặt trận tư tưởng văn hóa, việc đấu tranh phê bình và chỉ trích những tư tưởng sai trái, đã xuất hiện từ xa xưa. Không phê phán tư tưởng sai trái, thì tư tưởng đúng đắn không thể đứng vững được. Đây chính là điều mà ngày nay chúng ta thường nói "đấu tranh tư tưởng " vậy.
Trong quá khứ, việc đấu tranh tư tưởng có khi thực hiện quá tả, có lúc đấu tranh phê phán quá mức, khuếch đại quá lớn ; có lúc đem vấn đề tư tưởng thành vấn đề chính trị một mất một còn, đem phong trào phê phán tư tưởng sai trái thành phong trào chỉnh người, trở thành thái quá. Nhưng không vì vậy mà bác bỏ đấu tranh phê phán.
Cần phê phán tư tưởng sai trái ở từng cá nhân, cũng như những tư tưởng hành động sai trái này, đã thâm nhập lan tràn trong xã hội. Tư tưởng đúng đắn phải xây dựng được quyền uy, lý luận đúng đắn phải biến thành hành động tự giác của quần chúng, truyền thống văn hóa đạo đức của xã hội từng bước được hình thành tốt đẹp.
Khi thường xuyên cảnh giác, kịp thời phê phán loại bỏ những tư tưởng sai trái, kịp thời bài trừ khuynh hướng bất lương, thì sự phát triển để ổn định xã hội ngày hôm nay, không làm thương tổn đến khả năng phát triển bền vững của ngày mai.
VI CHÍNH
Tiết 15: Khổng Tử nói:
" Dám mạnh dạn đấu tranh phê bình chỉ trích tệ hại thói hư tật xấu thì tự nhiên họa hại sẽ tiêu tan ".
Bình luận:
Trong mặt trận tư tưởng văn hóa, việc đấu tranh phê bình và chỉ trích những tư tưởng sai trái, đã xuất hiện từ xa xưa. Không phê phán tư tưởng sai trái, thì tư tưởng đúng đắn không thể đứng vững được. Đây chính là điều mà ngày nay chúng ta thường nói "đấu tranh tư tưởng " vậy.
Trong quá khứ, việc đấu tranh tư tưởng có khi thực hiện quá tả, có lúc đấu tranh phê phán quá mức, khuếch đại quá lớn ; có lúc đem vấn đề tư tưởng thành vấn đề chính trị một mất một còn, đem phong trào phê phán tư tưởng sai trái thành phong trào chỉnh người, trở thành thái quá. Nhưng không vì vậy mà bác bỏ đấu tranh phê phán.
Cần phê phán tư tưởng sai trái ở từng cá nhân, cũng như những tư tưởng hành động sai trái này, đã thâm nhập lan tràn trong xã hội. Tư tưởng đúng đắn phải xây dựng được quyền uy, lý luận đúng đắn phải biến thành hành động tự giác của quần chúng, truyền thống văn hóa đạo đức của xã hội từng bước được hình thành tốt đẹp.
Khi thường xuyên cảnh giác, kịp thời phê phán loại bỏ những tư tưởng sai trái, kịp thời bài trừ khuynh hướng bất lương, thì sự phát triển để ổn định xã hội ngày hôm nay, không làm thương tổn đến khả năng phát triển bền vững của ngày mai.
LUẬN NGỮ - Chương 2 - Tiết 17
Chương 2
VI CHÍNH
Tiết 17: Tử Trương hỏi Khổng Tử cách học để cầu có chức tước bổng lộc. Khổng Tử nói:
" Phải nghe nhiều, có điều gì nghi ngờ thì phải giữ lại, những điểm nào thấy minh bạch chắc chắn thì nói một cách thận trọng, như vậy sẽ giảm được oán trách.
Phải quan sát nhiều, nếu có điều gì nguy hại thì dẹp một bên, đừng làm ; còn những điều gì xét thấy chắc chắn, đảm bảo thì làm một cách thận trọng, như vậy nhất định giảm được nhiều điều hối hận.
Nói ít phạm sai lầm, không có ai oán trách ; làm không để xẩy ra điều gì phải hối hận thì quan tước bổng lộc đã tự có ở trong đó rồi ".
Bình luận:
VI CHÍNH
Tiết 17: Tử Trương hỏi Khổng Tử cách học để cầu có chức tước bổng lộc. Khổng Tử nói:
" Phải nghe nhiều, có điều gì nghi ngờ thì phải giữ lại, những điểm nào thấy minh bạch chắc chắn thì nói một cách thận trọng, như vậy sẽ giảm được oán trách.
Phải quan sát nhiều, nếu có điều gì nguy hại thì dẹp một bên, đừng làm ; còn những điều gì xét thấy chắc chắn, đảm bảo thì làm một cách thận trọng, như vậy nhất định giảm được nhiều điều hối hận.
Nói ít phạm sai lầm, không có ai oán trách ; làm không để xẩy ra điều gì phải hối hận thì quan tước bổng lộc đã tự có ở trong đó rồi ".
Bình luận:
Khổng Tử giảng phương pháp học tập để làm quan hưởng bộc lộc có bốn điều:
Nghe nhiều: Một người ở quan trường phải giải quyết rất nhiều công việc, điều quan trọng là phải nghe nhiều. Nghe nhiều tiếng nói khác nhau, nghe đủ các loại ý kiến từ mọi phía, cần đặc biệt nghe những ý kiến mà bình thường mình không thể nghe được.
Tai chỉ nghe một phía, trong lòng chỉ có một loại ý kiến, thì không tránh khỏi thiên lệch. Lời nói hay cũng nghe, dở cũng nghe. Lời nói ủng hộ cũng nghe, phản đối cũng nghe. Như vậy, mới có điều kiện đem so sánh đối chiếu, đề xuất được ý kiến, quyết sách đúng đắn, để có thể giải quyết tốt việc công, việc nước.
Điều gì hoài nghi thì phải giữ lại: Khi thi hành phận sự, thường phải giải quyết sự tranh chấp nhân sự, công việc chính trị nhiều, tình hình các ngành nghề phức tạp. Nhưng con người ta không thể cái gì cũng biết, cái gì cũng hay. Khổng Tử đề xướng làm việc gì cũng đều phải luôn tự hỏi: " Vì sao ? Như thế nào ? " ; đối với những vấn đề đã hiểu rõ, có thể đưa ra ý kiến của mình, nhưng khi trình bầy, thái độ khi nói phải hết sức thận trọng ; đối với những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu thì phải giữ lại, để tìm hiểu ngọn ngành đầu đôi, tránh phát ngôn tùy tiện bừa bãi.
Đây là thái độ nghiêm túc, thái độ cẩn trọng đối với công việc.
Làm không để xảy ra điều gì phải hối hận: Giải quyết công việc phải có trách nhiệm, đừng để khi làm phạm phải sai lầm, dẫn đến nhiều người oán trách. Quan điểm chủ trương của Khổng Tử khi giải quyết chính sự phải chắc chắn. Mỗi khi định làm việc gì, phải có chủ trương đúng đắn, chuẩn bị cẩn thận, có tinh thần trách nhiệm với kết quả công việc, thì sẽ không để xảy ra điều gì phải hối hận.
Nếu trước khi làm mà thiếu thận trọng, thiếu chuẩn bị chu đáo, giữ thái độ tắc trách đại khái, vội vàng ra mệnh lệnh chỉ thị, thì sẽ hối hận không kịp.
Hối hận nhiều, oán trách nhiều, khuyết điểm sai lầm nhiều, thì nhất định sẽ làm hỏng chính sự.
Phải quan sát để tận mắt học hỏi nhiều điều trong thực tế: Có như vậy, khi giải quyết vấn đề mới thấu tình đạt lý. Trên thuận đạo trời, dưới hợp đạo người, thì nắm chắc sự thành công, lập nên thành tích. Quan tước bổng lộc đều ở trong đó cả.
Nghe nhiều: Một người ở quan trường phải giải quyết rất nhiều công việc, điều quan trọng là phải nghe nhiều. Nghe nhiều tiếng nói khác nhau, nghe đủ các loại ý kiến từ mọi phía, cần đặc biệt nghe những ý kiến mà bình thường mình không thể nghe được.
Tai chỉ nghe một phía, trong lòng chỉ có một loại ý kiến, thì không tránh khỏi thiên lệch. Lời nói hay cũng nghe, dở cũng nghe. Lời nói ủng hộ cũng nghe, phản đối cũng nghe. Như vậy, mới có điều kiện đem so sánh đối chiếu, đề xuất được ý kiến, quyết sách đúng đắn, để có thể giải quyết tốt việc công, việc nước.
Điều gì hoài nghi thì phải giữ lại: Khi thi hành phận sự, thường phải giải quyết sự tranh chấp nhân sự, công việc chính trị nhiều, tình hình các ngành nghề phức tạp. Nhưng con người ta không thể cái gì cũng biết, cái gì cũng hay. Khổng Tử đề xướng làm việc gì cũng đều phải luôn tự hỏi: " Vì sao ? Như thế nào ? " ; đối với những vấn đề đã hiểu rõ, có thể đưa ra ý kiến của mình, nhưng khi trình bầy, thái độ khi nói phải hết sức thận trọng ; đối với những vấn đề chưa rõ, chưa hiểu thì phải giữ lại, để tìm hiểu ngọn ngành đầu đôi, tránh phát ngôn tùy tiện bừa bãi.
Đây là thái độ nghiêm túc, thái độ cẩn trọng đối với công việc.
Làm không để xảy ra điều gì phải hối hận: Giải quyết công việc phải có trách nhiệm, đừng để khi làm phạm phải sai lầm, dẫn đến nhiều người oán trách. Quan điểm chủ trương của Khổng Tử khi giải quyết chính sự phải chắc chắn. Mỗi khi định làm việc gì, phải có chủ trương đúng đắn, chuẩn bị cẩn thận, có tinh thần trách nhiệm với kết quả công việc, thì sẽ không để xảy ra điều gì phải hối hận.
Nếu trước khi làm mà thiếu thận trọng, thiếu chuẩn bị chu đáo, giữ thái độ tắc trách đại khái, vội vàng ra mệnh lệnh chỉ thị, thì sẽ hối hận không kịp.
Hối hận nhiều, oán trách nhiều, khuyết điểm sai lầm nhiều, thì nhất định sẽ làm hỏng chính sự.
Phải quan sát để tận mắt học hỏi nhiều điều trong thực tế: Có như vậy, khi giải quyết vấn đề mới thấu tình đạt lý. Trên thuận đạo trời, dưới hợp đạo người, thì nắm chắc sự thành công, lập nên thành tích. Quan tước bổng lộc đều ở trong đó cả.
TỨ THƯ - LUẬN NGỮ
LUẬN NGỮ
Trong kho trí tuệ mà Khổng Tử cống hiến cho nhân loại, phải kể đến Luận Ngữ, với nguyên nghĩa sách Luận Ngữ là bàn về lời nói. Sau khi Khổng Tử mất, các học trò của ông cùng nhau chép lại và bàn luận lời của Thầy, khi trả lời học trò hỏi đáp lẫn nhau, để hiểu cho đúng, hiểu được rõ lời dạy của Thầy.
Luận Ngữ đi sâu lý giải mọi vấn đề chính trị, xã hội, luân lý, đạo đức, ... một cách sâu rộng và uyên thâm. Nội dung của Luận Ngữ trong mọi phương diện học tập, giáo dục, xử thế và trị nước an dân. Lời văn trong Luận Ngữ trong sáng, cô đọng thành những danh ngôn bất hủ, nên được tiếp thu và có được sự ảnh hưởng lớn rộng rãi, cho tới nay vẫn không mất đi giá trị chân thực.
Khổng Tử cho rằng người ta phải tu thân, tề gia, sau mới nói đến trị quốc bình thiên hạ được.
Trong việc tu thân, tề gia, người ta phải tu dưỡng rèn luyện "nội tâm", để đạt được nguyên tắc đạo đức tối cao, bao gồm những đức như: trung, thứ, hiếu, đễ, cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Đây mà nhân cách tiêu chuẩn do Khổng Tử xây dựng nên, một khuôn mẫu cơ bản, được xã hội cổ đại chấp nhận và tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử. Để đạt được theo tiêu chuẩn khuôn mẫu, cũng có nghĩa là đã xác lập được nhân cách tiêu chuẩn là người "quân tử". Khi ấy, con người ta sẽ biết coi trọng luân thường đạo lý, biết sống có trách nhiệm, biết đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, tránh xa được chủ nghĩa cá nhân làm sa đọa con người và xã hội.
Trong việc trị quốc, bình thiên hạ, người cầm quyền phải tu thân tề gia, rồi mới thi hành đức trị theo lễ giáo, từ đó mà cảm hóa dân chúng, khiến cho dân chúng phục tùng sự cai trị của mình. Cương lĩnh được chú trọng nhất đó là "lễ", có nghĩa là trật tự trong trị nước. Khổng Tử đã định ra thuyết "chính danh", với yêu cầu: " vua trọn đạo làm vua, tôi trọn đạo làm tôi, cha trọn đạo làm cha, con trọn đạo làm con ", coi chính danh là biện pháp lớn để trị nước. Một tư tưởng lớn khác của Khổng Tử là " không lo của cải ít, chỉ lo phân phối không đều ; không lo dân không đông, mà chỉ lo lòng dân không yên ", để từ đây mà xây dựng nên thế giới "đại đồng".
Gắn kết lời dạy của thánh nhân với cuộc sống hông nay, ta tìm thấy giá trị đích thực đối với bản thân, trong xu thế toàn cầu hóa đang tràn lan. Ta sẽ hiểu thấu đáo hơn nền tảng văn hóa truyền thống của dân tộc, trên cơ sở tiếp thu uyển chuyển, linh hoạt, có chọn lọc những tinh hoa tư tưởng Khổng Mạnh, để rồi từ đó hình thành những định hướng cho chặng đường phát triển tiếp theo.
Trong kho trí tuệ mà Khổng Tử cống hiến cho nhân loại, phải kể đến Luận Ngữ, với nguyên nghĩa sách Luận Ngữ là bàn về lời nói. Sau khi Khổng Tử mất, các học trò của ông cùng nhau chép lại và bàn luận lời của Thầy, khi trả lời học trò hỏi đáp lẫn nhau, để hiểu cho đúng, hiểu được rõ lời dạy của Thầy.
Luận Ngữ đi sâu lý giải mọi vấn đề chính trị, xã hội, luân lý, đạo đức, ... một cách sâu rộng và uyên thâm. Nội dung của Luận Ngữ trong mọi phương diện học tập, giáo dục, xử thế và trị nước an dân. Lời văn trong Luận Ngữ trong sáng, cô đọng thành những danh ngôn bất hủ, nên được tiếp thu và có được sự ảnh hưởng lớn rộng rãi, cho tới nay vẫn không mất đi giá trị chân thực.
Khổng Tử cho rằng người ta phải tu thân, tề gia, sau mới nói đến trị quốc bình thiên hạ được.
Trong việc tu thân, tề gia, người ta phải tu dưỡng rèn luyện "nội tâm", để đạt được nguyên tắc đạo đức tối cao, bao gồm những đức như: trung, thứ, hiếu, đễ, cung, khoan, tín, mẫn, huệ. Đây mà nhân cách tiêu chuẩn do Khổng Tử xây dựng nên, một khuôn mẫu cơ bản, được xã hội cổ đại chấp nhận và tồn tại trong suốt chiều dài của lịch sử. Để đạt được theo tiêu chuẩn khuôn mẫu, cũng có nghĩa là đã xác lập được nhân cách tiêu chuẩn là người "quân tử". Khi ấy, con người ta sẽ biết coi trọng luân thường đạo lý, biết sống có trách nhiệm, biết đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, tránh xa được chủ nghĩa cá nhân làm sa đọa con người và xã hội.
Trong việc trị quốc, bình thiên hạ, người cầm quyền phải tu thân tề gia, rồi mới thi hành đức trị theo lễ giáo, từ đó mà cảm hóa dân chúng, khiến cho dân chúng phục tùng sự cai trị của mình. Cương lĩnh được chú trọng nhất đó là "lễ", có nghĩa là trật tự trong trị nước. Khổng Tử đã định ra thuyết "chính danh", với yêu cầu: " vua trọn đạo làm vua, tôi trọn đạo làm tôi, cha trọn đạo làm cha, con trọn đạo làm con ", coi chính danh là biện pháp lớn để trị nước. Một tư tưởng lớn khác của Khổng Tử là " không lo của cải ít, chỉ lo phân phối không đều ; không lo dân không đông, mà chỉ lo lòng dân không yên ", để từ đây mà xây dựng nên thế giới "đại đồng".
Gắn kết lời dạy của thánh nhân với cuộc sống hông nay, ta tìm thấy giá trị đích thực đối với bản thân, trong xu thế toàn cầu hóa đang tràn lan. Ta sẽ hiểu thấu đáo hơn nền tảng văn hóa truyền thống của dân tộc, trên cơ sở tiếp thu uyển chuyển, linh hoạt, có chọn lọc những tinh hoa tư tưởng Khổng Mạnh, để rồi từ đó hình thành những định hướng cho chặng đường phát triển tiếp theo.
LUẬN NGỮ - Chương 5 - CÔNG DÃ TRÀNG - Tiết 9 - 10
LUẬN NGỮ
Chương 5
CÔNG DÃ TRÀNG
Tiết 9:
Khổng Tử nói với Tử Cống: " Thử so sánh ngươi với Nhan Hồi, ai giỏi hơn ? "
Tử Cống thưa: " Con làm sao dám so sánh với Nhan Hồi. Nhan Hồi nghe một việc có thể suy ra mười việc; còn con nghe một việc chỉ có thể suy ra hai việc mà thôi ".
Khổng Tử nói: "Không bằng thật ! Ta xem ngươi đúng là không bằng Nhan Hồi ".
Lời bình:
Tiết này thể hiện tử tưởng giáo dục của Khổng Tử. Tử Cống và Nhan Hồi là hai học trò của Khổng Tử. Nha Hồi học một biết mười, Tử Cống học một biết hai.
Thế giới rộng lớn bao la vạn tượng, đủ các loại sự lý phức tạp đan xen. Nhưng, mỗi sự vật đều có mối liên hệ phổ biến với sự vật khác, nghĩa là mỗi sự vật vừa có tính đặc thù của mình, vừa có tính chung. Nắm bắt được tính chung của sự vật, thì nghe một biết hai, thậm chí nghe một biết mười, từ một sự vật có thể suy ra mười sự vật khác.
Đây là phép biện chứng của nhận thức luận.
Ngày thường, Tử Cống so sánh mình với Nhan Hồi và biết mình không bằng Nhan Hồi, nên nói như vậy. Khổng Tử đánh giá Tử Cống tự biết mình không bằng Nhan Hồi là thái độ rất nghiêm túc, thật đáng tôn trọng.
Tiết 10:
Tể Dữ ngủ ban ngày. Khổng Tử nói: " Gỗ mục không có cách gì đẽo thành công cụ. Giống như bức tường bằng đất nhỏ, xấu xí thì không bao giờ quét vôi cho mới được. Đối với con người như Tể Dữ, ta trách cứ mà làm gì ? ".
Tiếp đó, Khổng Tử nói thêm: " Khi trước, ta chỉ nghe nói người khác thì tin vào việc làm. Nhưng nay, ta nghe người khác nói rồi còn phải quan sát việc làm nữa. Chính vì Tể Dữ ngủ ban ngày, mà ta thay đổi cách nhìn nhận như vậy.
Lời bình:
Tể Dữ nói hay, nhưng việc làm không đúng như lời đã nói. Khổng Tử dạy học trò phải học tập không mệt mỏi, thế mà Tể Dữ dám ngủ ngày.
Từ sự kiện này, Khổng Tử tự sửa chữa sai lầm, thay đổi cách thức nhìn nhận đánh giá con người, từ "nghe người khác nói mà tin việc làm ", sang " nghe người khác nói còn phải xem việc làm ".
Quan sát một con người, không nên chỉ nghe người ta nói, mà phải quan sát hành vi của người ấy như thế nào. Không những nghe người ta nói như thế nào, mà phải xem người ta hành động ra sao.
Đây là kết luận của Khổng Tử.
Chương 5
CÔNG DÃ TRÀNG
Tiết 9:
Khổng Tử nói với Tử Cống: " Thử so sánh ngươi với Nhan Hồi, ai giỏi hơn ? "
Tử Cống thưa: " Con làm sao dám so sánh với Nhan Hồi. Nhan Hồi nghe một việc có thể suy ra mười việc; còn con nghe một việc chỉ có thể suy ra hai việc mà thôi ".
Khổng Tử nói: "Không bằng thật ! Ta xem ngươi đúng là không bằng Nhan Hồi ".
Lời bình:
Tiết này thể hiện tử tưởng giáo dục của Khổng Tử. Tử Cống và Nhan Hồi là hai học trò của Khổng Tử. Nha Hồi học một biết mười, Tử Cống học một biết hai.
Thế giới rộng lớn bao la vạn tượng, đủ các loại sự lý phức tạp đan xen. Nhưng, mỗi sự vật đều có mối liên hệ phổ biến với sự vật khác, nghĩa là mỗi sự vật vừa có tính đặc thù của mình, vừa có tính chung. Nắm bắt được tính chung của sự vật, thì nghe một biết hai, thậm chí nghe một biết mười, từ một sự vật có thể suy ra mười sự vật khác.
Đây là phép biện chứng của nhận thức luận.
Ngày thường, Tử Cống so sánh mình với Nhan Hồi và biết mình không bằng Nhan Hồi, nên nói như vậy. Khổng Tử đánh giá Tử Cống tự biết mình không bằng Nhan Hồi là thái độ rất nghiêm túc, thật đáng tôn trọng.
Tiết 10:
Tể Dữ ngủ ban ngày. Khổng Tử nói: " Gỗ mục không có cách gì đẽo thành công cụ. Giống như bức tường bằng đất nhỏ, xấu xí thì không bao giờ quét vôi cho mới được. Đối với con người như Tể Dữ, ta trách cứ mà làm gì ? ".
Tiếp đó, Khổng Tử nói thêm: " Khi trước, ta chỉ nghe nói người khác thì tin vào việc làm. Nhưng nay, ta nghe người khác nói rồi còn phải quan sát việc làm nữa. Chính vì Tể Dữ ngủ ban ngày, mà ta thay đổi cách nhìn nhận như vậy.
Lời bình:
Tể Dữ nói hay, nhưng việc làm không đúng như lời đã nói. Khổng Tử dạy học trò phải học tập không mệt mỏi, thế mà Tể Dữ dám ngủ ngày.
Từ sự kiện này, Khổng Tử tự sửa chữa sai lầm, thay đổi cách thức nhìn nhận đánh giá con người, từ "nghe người khác nói mà tin việc làm ", sang " nghe người khác nói còn phải xem việc làm ".
Quan sát một con người, không nên chỉ nghe người ta nói, mà phải quan sát hành vi của người ấy như thế nào. Không những nghe người ta nói như thế nào, mà phải xem người ta hành động ra sao.
Đây là kết luận của Khổng Tử.
LUẬN NGỮ
LUẬN NGỮ
Chương 2
VI CHÍNH
Tử Trương hỏi: " Có thể biết chế độ lễ nghĩa mười đời về sau không ? "
Khổng Tử nói: " Nhà Ân dựa vào chế độ nhà Hạ mà bỏ bớt hoặc thêm vào, điều đó cũng có thể hiểu được. Nhà Chu dựa vào chế độ nhà Ân mà bỏ bớt hoặc thêm vào, điều này cũng có thể hiểu được. Vì vậy, tương lai người kế nghiệp nhà Chu, cầm quyền thay nhà Chu, hoặc dù cho đến một trăm đời sau, cứ theo đó mà suy ra vẫn có thể biết trước ".
Lời bình:
Trong lịch sử, có người nói Khổng Tử có thể biết trước một nghìn năm và sau một vạn năm. Đâu phải Khổng Tử có trí tuệ và năng lực siêu nhân, mà là vì Khổng Tử có phương pháp xem xét đúng đắn.
Nên khi nghe Tử Trương hỏi, Khổng Tử nói hoàn toàn có thể biết được, không chỉ mười đời mà cả trăm đời về sau, cũng có thể suy đoán ra. Bởi vì, Lịch sử là quá trình kế thừa và phát triển liên tục, kế tiếp nhau. Mỗi thời đại mới, đều kế thừa thời đại trước đó, đều có đổi mới phát triển, nhưng kế thừa là phần lớn. Đổi mới, thay đổi, phế bỏ và bổ xung đều chỉ giới hạn ở một số mặt và ở mức độ nhất định.
Nhà Ân kế thừa nhà Hạ, tuy có phế bỏ và có bổ xung, có điều có ích và có điều có hại, nhưng đại thể kế thừa là chủ yếu. Nhà Chu đối với nhà Ân cũng như vậy. Đời sau đối với đời trước chủ yếu là kế thừa. Điều này, quyết định tính ổn định tương đối của cải cách trong lịch sử. Theo đạo lý, nếu biết đời trước thì có thể biết đời sau, thậm chí có thể biết mười đời hoặc một trăm đời sau.
Đây là phương pháp xem xét khoa học của Khổng Tử để dự đoán tương lai.
Tiết 23:
Khổng Tử nói: " Không phải Tổ tiên mình, mà mình lại cúng tế, như vậy là siểm nịnh. Nhìn thấy việc chính nghĩa mà không dám làm, là không có dũng khí ".
Lời bình:
Trong quan niệm tư tưởng, Khổng Tử phản đối mạnh nhất là siểm nịnh và rất coi thường kẻ nịnh bợ, tâng bốc. Khổng Tử không những phản đối kẻ nịnh hót người sống, mà còn phản đối nịnh hót người đã chết. Khổng Tử biết rất rõ việc siểm nịnh người đã chết là để cho người còn sống xem, do vậy hành vi này vẫn là siểm nịnh người đang sống.
Bình sinh Khổng Tử không hề nịnh bợ ai.
Nhìn thấy hành vi chính nghĩa mà không dám làm, không dám ủng hộ, Khổng Tử cho đó là loại người không có dũng khí. Mạnh Tử từng nói: " Sự sống là điều ta muốn, việc nghĩa cũng là điều ta muốn, nếu hai điều này không thể chung được trong ta, thì ta sẵn sàng bỏ sự sống mà làm việc nghĩa ".
Thấy chính nghĩa dám làm, dám ủng hộ thì đó là con người sẵn sàng vì lợi ích Quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, mà dám hy sinh lợi ích cá nhân. Trong lịch sử có biết bao nhân vật thấy chính nghĩa đã dũng cảm ra tay hành động, để lại bao sự tích anh hùng đáng ca tụng. Nhưng trong cuộc sống xã hội hiện nay, người thấy chính nghĩa mà vẫn im lặng, không dám đứng về phía chính nghĩa, không dám bảo vệ chính nghĩa vẫn còn tồn tại không ít.
Câu nói này của Khổng Tử cho tới nay, vẫn còn mang giá trị hiện thực.
Chương 2
VI CHÍNH
Tiết 22:
Tử Trương hỏi: " Có thể biết chế độ lễ nghĩa mười đời về sau không ? "
Khổng Tử nói: " Nhà Ân dựa vào chế độ nhà Hạ mà bỏ bớt hoặc thêm vào, điều đó cũng có thể hiểu được. Nhà Chu dựa vào chế độ nhà Ân mà bỏ bớt hoặc thêm vào, điều này cũng có thể hiểu được. Vì vậy, tương lai người kế nghiệp nhà Chu, cầm quyền thay nhà Chu, hoặc dù cho đến một trăm đời sau, cứ theo đó mà suy ra vẫn có thể biết trước ".
Lời bình:
Trong lịch sử, có người nói Khổng Tử có thể biết trước một nghìn năm và sau một vạn năm. Đâu phải Khổng Tử có trí tuệ và năng lực siêu nhân, mà là vì Khổng Tử có phương pháp xem xét đúng đắn.
Nên khi nghe Tử Trương hỏi, Khổng Tử nói hoàn toàn có thể biết được, không chỉ mười đời mà cả trăm đời về sau, cũng có thể suy đoán ra. Bởi vì, Lịch sử là quá trình kế thừa và phát triển liên tục, kế tiếp nhau. Mỗi thời đại mới, đều kế thừa thời đại trước đó, đều có đổi mới phát triển, nhưng kế thừa là phần lớn. Đổi mới, thay đổi, phế bỏ và bổ xung đều chỉ giới hạn ở một số mặt và ở mức độ nhất định.
Nhà Ân kế thừa nhà Hạ, tuy có phế bỏ và có bổ xung, có điều có ích và có điều có hại, nhưng đại thể kế thừa là chủ yếu. Nhà Chu đối với nhà Ân cũng như vậy. Đời sau đối với đời trước chủ yếu là kế thừa. Điều này, quyết định tính ổn định tương đối của cải cách trong lịch sử. Theo đạo lý, nếu biết đời trước thì có thể biết đời sau, thậm chí có thể biết mười đời hoặc một trăm đời sau.
Đây là phương pháp xem xét khoa học của Khổng Tử để dự đoán tương lai.
Tiết 23:
Khổng Tử nói: " Không phải Tổ tiên mình, mà mình lại cúng tế, như vậy là siểm nịnh. Nhìn thấy việc chính nghĩa mà không dám làm, là không có dũng khí ".
Lời bình:
Trong quan niệm tư tưởng, Khổng Tử phản đối mạnh nhất là siểm nịnh và rất coi thường kẻ nịnh bợ, tâng bốc. Khổng Tử không những phản đối kẻ nịnh hót người sống, mà còn phản đối nịnh hót người đã chết. Khổng Tử biết rất rõ việc siểm nịnh người đã chết là để cho người còn sống xem, do vậy hành vi này vẫn là siểm nịnh người đang sống.
Bình sinh Khổng Tử không hề nịnh bợ ai.
Nhìn thấy hành vi chính nghĩa mà không dám làm, không dám ủng hộ, Khổng Tử cho đó là loại người không có dũng khí. Mạnh Tử từng nói: " Sự sống là điều ta muốn, việc nghĩa cũng là điều ta muốn, nếu hai điều này không thể chung được trong ta, thì ta sẵn sàng bỏ sự sống mà làm việc nghĩa ".
Thấy chính nghĩa dám làm, dám ủng hộ thì đó là con người sẵn sàng vì lợi ích Quốc gia, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng, mà dám hy sinh lợi ích cá nhân. Trong lịch sử có biết bao nhân vật thấy chính nghĩa đã dũng cảm ra tay hành động, để lại bao sự tích anh hùng đáng ca tụng. Nhưng trong cuộc sống xã hội hiện nay, người thấy chính nghĩa mà vẫn im lặng, không dám đứng về phía chính nghĩa, không dám bảo vệ chính nghĩa vẫn còn tồn tại không ít.
Câu nói này của Khổng Tử cho tới nay, vẫn còn mang giá trị hiện thực.
論語 - Luận Ngữ
1. Dương Hóa 陽貨:
寬則得眾, 信則人任焉
Độ lượng thì được lòng mọi người, thành tín thì được người ta tín nhiệm.
2. Tử Hãn 子罕:
仰之彌高, 鑽之彌堅, 瞻之在前, 忽焉在後
Ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu
Đạo (của Khổng Tử) càng ngửng lên trông càng thấy cao, càng đục càng thấy cứng, mới thấy ở trước mặt, bỗng hiện ở sau lưng.
3. Tiên tiến 先進
未能事人, 焉能事鬼
Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ?
Chưa biết đạo thờ người, sao biết được đạo thờ quỷ thần?
寬則得眾, 信則人任焉
Độ lượng thì được lòng mọi người, thành tín thì được người ta tín nhiệm.
2. Tử Hãn 子罕:
仰之彌高, 鑽之彌堅, 瞻之在前, 忽焉在後
Ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu
Đạo (của Khổng Tử) càng ngửng lên trông càng thấy cao, càng đục càng thấy cứng, mới thấy ở trước mặt, bỗng hiện ở sau lưng.
3. Tiên tiến 先進
未能事人, 焉能事鬼
Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ?
Chưa biết đạo thờ người, sao biết được đạo thờ quỷ thần?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)