Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư liệu. Hiển thị tất cả bài đăng

10 đại bí ẩn thế giới

Hiếm có câu chuyện nào có khả năng thu hút sự chú ý của chúng ta như những câu chuyện chưa được giải đoán.
Các mật mã, những bí ẩn và những tác phẩm nghệ thuật công cộng được mã hóa trêu chọc chúng ta bởi những tình tiết bí hiểm của nó: Tại sao thông điệp của chúng được mã hóa? Chúng có thể hàm chứa những đại bí mật nào? Bất chấp sự lao tâm khổ tứ của những sử gia giỏi nhất, những chuyên gia mật mã thông minh nhất và những kẻ săn tìm kho báu quyết tâm nhất, lịch sử đầy ắp những bí ẩn vẫn tiếp tục làm chúng ta bối rối cho đến nay. Những câu chuyện hư cấu, kiểu như những chuyện được mô tả trong cuốn “Mật mã Da Vinci” (The Da Vinci Code) và bộ phim “Kho báu quốc gia” (National Treasure) không có gì giống với những bí mật từ đời thực này. Dưới đây là danh sách 10 bí ẩn và mật mã chưa thể khám phá huyền bí nhất.

1. Bản viết tay Voynich

Được đặt theo tên của người bán sách cổ người Mỹ gốc Ba Lan Wilfrid M.Voynich đã mua nó vào năm 1912, “Bản viết tay Voynich” là cuốn sách dày 240 trang viết tỉ mỉ bằng một ngôn ngữ hoàn toàn không được biết đến.

Các trang sách cũng đầy những hình vẽ màu của các biểu đồ kỳ lạ, những hình ảnh của các sự kiện và cây cối không hề giống bất cứ loại nào đã biết, điều này càng làm cho cuốn sách thêm phần bí hiểm mà người ta không thể giải mã.

Không ai biết tác giả bản thảo viết tay này là ai, nhưng phân tích carbon phóng xạ đã cho thấy các trang bản thảo được thực hiện đâu đó vào giữa những năm 1404 và 1438. Bản thảo này đã được gọi là “Bản viết tay bí ẩn nhất thế giới”.

qp-tp-m

Có nhiều thuyết khác nhau về nguồn gốc và bản chất của bản thảo này. Một số cho rằng, đây là một dược điển, mô tả các vấn đề kiến thức y học khác nhau của thời trung cổ và sơ kỳ hiện đại. Nhiều bức vẽ các loại thảo mộc cũng khiến người ta phải giả định rằng, nó là cái gì đó đại loại như một cuốn sách giáo khoa dành cho các nhà giả kim thuật.Việc nhiều biểu đồ dường như vẽ các hiện tượng thiên văn, cùng với những phác họa sinh học không xác định được, thậm chí còn khiến một số nhà lý luận giàu tưởng tượng phỏng đoán cuốn sách có thể có nguồn gốc ngoài trái đất.
qp-tp-m01

Song hầu như tất cả các nhà lý luận đều thống nhất ở một điểm cho rằng, cuốn sách này khó có thể là trò đùa khi xét đến thời lượng, số tiền bạc và lao động hết sức tỉ mỉ cần để tạo ra nó.

2. Kryptos

Kryptos là một tác phẩm điêu khắc bí ẩn được khắc 1.800 ký tự chứa những thông điệp được mã hóa do nhà điêu khắc Mỹ Jim Sanborn tạo tác, được đặt ngay trước đại bản doanh Cục Tình báo trung ương Mỹ CIA ở Langley, Virginia vào năm 1990. Nó bí ẩn đến nỗi ngay chính cơ quan gián điệp khét tiếng thế giới CIA cũng không thể giải mã được hoàn toàn mật mã của nó.

qp-tp-m02

Tác phẩm điêu khắc này gồm bốn phần, và mặc dù ba phần trong số đó đã giải được, song mật mã của phần thứ tư gồm 97 hay 98 ký tự đến nay vẫn không thể bẻ khóa.

Năm 2006, Sanborn hé lộ rằng, trong phần thứ nhất có chứa manh mối để giải phá phần bốn, và năm 2010 ông lại tiết lộ thêm một manh mối khác: các ký tự 64-69 NYPVTT trong phần thứ tư giải mã ra có nghĩa là BERLIN.

May ra bạn sẽ có thể giải mã được nó chăng?

3. Các mật mã Beale

Các mật mã Beale là một bộ gồm ba đoạn văn bản mã được cho là tiết lộ vị trí của một trong những kho báu bị chôn giấu vĩ đại nhất trong lịch sử nước Mỹ với hàng ngàn bảng vàng, bạc và đá quý. Kho báu ban đầu do một người đàn ông bí ẩn tên là Thomas Jefferson Beale tìm được vào năm 1818 trong khi khai thác vàng ở Colorado.

qp-tp-m03

Trong ba đoạn mã, chỉ có đoạn thứ hai đã giải mã được. Điều thú vị là chính bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ lại là khóa mã. Đây là một chuyện lạ lùng đáng kinh ngạc khi mà Beale còn trùng tên với tác giả của bản Tuyên ngôn Độc lập.

Đoạn văn bản giải mã được chỉ ra địa điểm chôn kho báu là Bedford County, Virginia, nhưng vị trí chính xác của nó rõ ràng là được mã hóa trong một trong hai đoạn mã còn lại chưa thể giải phá.

Cho đến nay, những kẻ săn tìm kho báu vẫn đang lùng sục kỹ lưỡng (thường là bất hợp pháp) các sườn đồi của Bedford County để truy tìm khối của cải khổng lồ này.

4. Đĩa Phaistos

Bí ẩn của đĩa Phaistos là câu chuyện có vẻ giống như trong phim Indiana Jones. Được phát hiện bởi các nhà khảo cổ Italia Luigi Pernier vào năm 1908 trong những phế tích của cung điện Minos ở Faistos, trên đảo Crete của Hy Lạp, đĩa này được làm bằng đất sét nung và chứa những ký hiệu bí ẩn mà có thể là một dạng chữ tượng hình chưa được biết đến.

Người ta tin rằng nó đã được làm ra đâu đó vào thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên.

qp-tp-m04

Một số học giả tin rằng, những chữ tượng hình này giống với các ký tự của Linear A và Linear B, những loại chữ viết từng được sử dụng ở Crete cổ đại. Vậy vấn đề là ở chỗ nào? Là ở chỗ Linear A không thể giải mã được.

Cho đến nay, đĩa Phaistos vẫn là một trong những bí ẩn nổi tiếng nhất của khảo cổ học.

5. Dòng chữ khắc ở Shugborough

Nhìn từ xa Đài tưởng niệm người chăn cừu (Shepherd’s Monument) thời thế kỷ 18 ở Staffordshire, nước Anh, bạn có thể nghĩ nó chẳng qua là sự tái hiện bằng điêu khắc của bức tranh nổi tiếng “Những người chăn cừu ở Arcadia” của Nicolas Poussin. Nhưng nhìn gần hơn, bạn sẽ thấy một chuỗi chữ cái kỳ lạ DOUOSVAVVM – một mật mã không thể giải phá đã hơn 250 năm.

qp-tp-m05

Và mặc dù không ai biết tác giả của mật mã này, một số người đồ rằng, mật mã có thể là một đầu mối do các hiệp sĩ dòng tu Đền Thánh để lại nhằm chỉ ra nơi tọa lạc của Chén Thánh.

Nhiều bộ óc vĩ đại nhất thế giới, trong đó có Charles Dickens và Charles Darwin, đã cố gắng để giải mã nhưng đều thất bại.

6. Vụ án Tamam Shud

Tamam Shud là một trong những bí ẩn lớn nhất của Australia. Nó xoay quanh một người đàn ông lạ được tìm thấy đã chết vào tháng 12/1948 trê bãi biển Somerton, Adelaide, Australia. Ngoài việc không thể nhận dạng người đàn ông, sự việc trở nên bí ẩn hơn khi một mảnh giấy nhỏ xíu với mấy từ “Tamam shud” được tìm thấy trong một cái túi bí mật trong chiếc quần dài của người đàn ông đã chết.

qp-tp-m06

Cụm từ này dịch ra có nghĩa là “hoàn thành” hoặc “kết thúc” và được sử dụng trên trang cuối của tuyển tập thơ “The Rubaiyat” của Omar Khayyam. Ngoài bí ẩn này, sau đó người ta còn tìm thấy một bản sao của “The Rubaiyat”, trong đó có một mật mã lạ viết nguệch ngoạc được cho là do người đàn ông đã chết này để lại.

Căn cứ nội dung bài thơ của Omar Khayyam, nhiều người cho rằng, thông điệp này là một thư tuyệt mệnh, nhưng đến nay nó vẫn chưa được giải phá, cũng như chính vụ án này.

7. Wow! Tín hiệu

Một đêm mùa hè năm 1977, Jerry Ehman, một tình nguyện viên của chương trình SETI (Search for Extraterrestrial Intelligence – một chương trình rộng lớn tìm kiếm các tín hiệu của trí thông minh ngoài trái đất), có thể là người đầu tiên đã nhận được một thông điệp có chủ ý từ hành tinh khác.

Trong khi quét các sóng vô tuyến điện từ vũ trụ sâu thẳm với hy vọng ngẫu nhiên bắt được một tín hiệu mang trong mình các dấu hiệu là nó được gửi bởi một chủng tộc có lý trí, Eman phát hiện thấy có sự đột biến trong các phép đo của mình.

qp-tp-m07

Tín hiệu kéo dài 72 giây – quãng thời gian tối đa mà thiết bị quét sóng của Ehman có thể đo được. Tín hiệu này to và dường như truyền từ một nơi mà con người chưa từng có mặt trước đó: từ một điểm trong chòm sao Sagittarius, gần ngôi sao có tên gọi Tau Sagittarii, cách trái đất 120 năm ánh sáng.

Ehman đã viết chữ “Wow!” trên bản in tín hiệu ban đầu, vì thế, nó được gọi là “Wow! Tín hiệu” (Wow! Signal).

Mọi nỗ lực một lần nữa bắt và định vị tín hiệu này đều thất bại, dẫn đến những cuộc tranh cãi lớn và sự bí ẩn về nguồn gốc và ý nghĩa của nó.

8. Những lá thư của tên cuồng sát Zodiac

Những lá thư của Zodia là một loạt 4 lá thư mã hóa mà người ta cho là được viết bởi Zodiac, tên giết người hàng loạt khét tiếng đã làm kinh hoàng dân chúng San Francisco vào nửa cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970. Những lá thư này có lẽ được viết để chọc tức các nhà báo và cảnh sát, và tuy một bức thư đã giải mã được, nhưng 3 lá thư còn lại vẫn chưa thể giải phá.

qp-tp-m08

Danh tính của Zodia cũng không bao giờ được xác định lập, mặc dù từ thập niên 1970, người ta không còn thấy các vụ giết người của Zodiac.

9. Những tảng đá chỉ đường ở Georgia

Những tảng đá chỉ đường Georgia đôi khi được coi là “Stonehenge của nước Mỹ”, là một tượng đài bằng đá hoa cương được dựng lên ở Elbert County, bang Georgia vào năm 1979. Những tảng đá được khắc 10 điều răn “mới” cho “Kỷ nguyên trí tuệ” viết bằng 8 ngôn ngữ – Anh, Tây Ban Nha, Swahili, Hindi, Do Thái, Arab, Trung Quốc và Nga. Các tảng đá cũng được xếp đặt theo những tính toán thiên văn nhất định.

Mặc dù công trình không chứa các thông điệp mã hóa, song mục đích và nguồn gốc của nó vẫn bao trùm bí ẩn. Nó được xây dựng bởi người đàn ông có bí danh R.C. Christian mà danh tính thật cuối cùng vẫn không thể xác định chính xác.

qp-tp-m09

Trong 10 điều răn này, điều răn thứ nhất có lẽ là gây tranh cãi nhất: “Hãy giữ dân số nhân loại ở mức dưới 500 triệu trong sự cân bằng vĩnh cửu với thiên nhiên”. Nhiều người cho rằng, đó là lời kêu gọi làm giảm dân số này tới con số đã nêu đó, còn những người chỉ trích “Những tảng đá chỉ đường” thì thậm chí còn kêu gọi phá hủy những tảng đá này. Một số người đam mê thuyết âm mưu thậm chí còn cho rằng, chúng được tạo ra bởi “Mật hội Lucifer” vốn kêu gọi một trật tự thế giới mới.

10. Rongorongo

Rongorongo là một hệ những ký hiệu bí ẩn được chạm vẽ trên các đồ tạo tác tìm thấy trên đảo Phục sinh. Nhiều người cho rằng, chúng đại diện cho một hệ chữ viết hay chữ viết nguyên thủy đã thất truyền, và có thể là một trong ba hay bốn hệ chữ viết được phát minh độc lập trong lịch sử nhân loại.

qp-tp-m010

Các ký hiệu đến nay vẫn chưa thể giải mã, và ý nghĩa thực sự của chúng – mà một số người cho là có chứa những manh mối về số phận của một nền văn minh đã biến mất từng xây dựng nên những bức tượng trên đảo Phục Sinh – có thể bị mất đi mãi mãi.

qp-tp-m011

Hai ngôi sao lùn cổ xưa nhất trong vũ trụ

.

Xác định hai ngôi sao lùn cổ xưa nhất trong vũ trụ - Tin180.com (Ảnh 1)




Từ chuyện “tính” người đến việc trị nước

Nhân chi sơ tính bản...?

Hồi còn chưa có chút khái niệm gì về triết học, tôi đã nhiều lần nghe người lớn nói câu: “Nhân chi sơ tính bản thiện”. Và được nghe giải thích đại khái: con người sinh ra vốn tính thiện hoặc: bản chất con người là thiện. Sau này lên đại học, làm quen với triết học Trung Hoa, tôi mới rõ thêm ít nhiều về thuyết tính thiện mà “cha đẻ” là Mạnh Tử và biết thêm còn có ông Tuân Tử với quan niệm trái nghịch: con người ta vốn tính ác.


Thầy Mạnh bảo rằng: “Ai cũng có lòng thương người (có người dịch là “lòng chẳng nỡ” (*) )... Sở dĩ tôi bảo vậy là vì có chứng cứ. Nếu thình lình thấy một đứa nhỏ sắp ngã xuống giếng ai cũng có lòng bồn chồn thương xót...” (**) . Đó là minh chứng cho một trong tứ đoan (bốn mối - hay có thể gọi nôm na là mầm thiện) của tính thiện mà nếu ai không có thì không phải là người, bao gồm: lòng trắc ẩn (thương xót), lòng tu ố (thẹn, ghét), lòng từ nhượng (kính nhường), lòng thị phi (biết phải trái).


Bốn mối thiện ấy vốn có, không phải do bên ngoài hun đúc nên, gọi là lương tri, lương năng. Từ đó dẫn đến tứ đức là: nhân, lễ, nghĩa, trí. “Lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân; lòng tu ố là đầu mối của nghĩa; lòng từ nhượng là đầu mối của lễ; lòng thị phi là đầu mối của trí. Người ta có bốn mối ấy như là có tứ chi vậy”. Nhưng Mạnh Tử cũng không nghĩ đơn giản đến mức tuyệt đối hóa tính thiện nơi con người. Ông bảo rằng con người cũng có những cái bất thiện, xấu xa chẳng khác mấy so với cầm thú, nhưng cái đó không phải là bản chất. Chỉ cái thiện mới được xem là tính người.

Nhưng Tuân Tử và một số triết gia khác sau ông không tin như vậy. Quan niệm của họ hoàn toàn đối nghịch: con người vốn tính ác.


Thầy Tuân khẳng định: “Tính con người, sinh ra là hiếu lợi, thuận theo tính đó thì sinh ra tranh đoạt lẫn nhau mà sự từ nhượng không có; sinh ra lòng đố kỵ, thuận theo tính đó thì sinh ra tàn tặc mà lòng trung tín không có; sinh ra có lòng ham muốn của tai mắt, có lòng thích về thanh sắc, thuận theo tính đó thì thành ra dâm loạn mà lễ nghĩa văn lý không có. Như thế thì theo cái tính của người ta, thuận cái tính của người ta thì tất sinh ra tranh đoạt, phạm vào cái phận (tức là quyền lợi của nhau), làm loạn cái lý mà mắc lỗi tàn bạo”.


Nhân, nghĩa, lễ, trí, theo thầy Tuân là “nhân vi”, do con người đặt ra.


Như vậy, thầy Mạnh, thầy Tuân - ai đúng? Bản tính con người thật ra là gì? Câu hỏi đó vượt quá sức một cậu sinh viên mới tập tò học triết như tôi lúc ấy. Bảo rằng mầm thiện và tính ác của con người vốn có sẵn và do trời phú, như vậy chẳng khác nào đưa ra một định đề buộc phải tin mà không giải thích. Triết lý có nên chỉ dừng lại ở đó? Hay phải chăng nên suy nghĩ theo chiều hướng “tính không thiện không ác” của Cáo Tử hay “tính siêu thiện ác” như các triết gia phái Lão Trang...?

Dù lý tưởng như thầy Mạnh hoặc thực tế như thầy Tuân thì điều thú vị là cả hai cuối cùng cũng gặp nhau ở một điểm: con người có thể (và cần) sửa mình để ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn. Và đến đây thì cả hai triết gia lại quay lại với bản chất xã hội của con người (dùng giáo dục, lễ nhạc do xã hội tạo nên để cải tính) - điều mà khi luận bàn về căn nguyên tính thiện - tí nhác họ chỉ lướt qua.
Thêm một điều đáng chú ý về cách thức tư duy. Các vị thầy thường xem xét vấn đề trên bình diện đạo đức trong khi đang luận bàn về bản chất con người, và bởi vậy rất dễ rơi vào vòng nhị nguyên đối đãi “thiện - ác”, mặc dù Mạnh Tử vốn không tuyệt đối hóa quan niệm tính thiện của mình. Liệu ta có thể thoát ra khỏi nếp suy luận hằn quá sâu đó để tránh xu hướng cực đoan?
Câu chuyện “cải tính”...

Đọc thêm sử sách mới hay rằng Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử hay phần đông triết gia Trung Hoa thời xưa đều ấp ủ giấc mơ cứu đời, muốn đem học thuyết của mình áp dụng vào cuộc sống để “trị quốc, bình thiên hạ” bởi thời mà họ đang sống là thời nhiễu nhương, loạn lạc (thời Xuân thu Chiến quốc).


Do vậy, một mặt họ không quên bàn luận những vấn đề siêu hình, thậm chí thần bí, nhưng mặt khác, họ lại hướng tư tưởng của mình vào những vấn nạn nhân sinh, và triết học của họ đậm màu đạo đức chính trị. Cho nên vấn đề bản chất con người, với họ, cần lược quy về bình diện đạo đức (tính thiện - tính ác, tốt - xấu...) để có thể tìm được giải pháp khả thi, thay vì những thuyết lý cao siêu mà khó áp dụng vào thực tế.


Điều này được minh chứng khi ta biết rằng, dù lý tưởng như thầy Mạnh hoặc thực tế như thầy Tuân thì điều thú vị là cả hai cuối cùng cũng gặp nhau ở một điểm: con người có thể (và cần) sửa mình để ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn. Và đến đây thì cả hai triết gia lại quay lại với bản chất xã hội của con người (dùng giáo dục, lễ nhạc do xã hội tạo nên để cải tính) - điều mà khi luận bàn về căn nguyên tính thiện - tính ác họ chỉ lướt qua.


Mạnh Tử chủ trương tính thiện cho nên theo ông, con người cần khuếch sung bốn mối đó bằng cách làm điều nhân nghĩa, giảm bớt lòng ham muốn (quả dục), nuôi dưỡng tâm tính (tồn tâm, dưỡng tính). Tâm vốn là tốt, cho nên: “Quân tử khác người ta chỉ ở chỗ giữ cho còn cái tâm mà thôi. Quân tử lấy nhân giữ cho còn cái tâm, lấy nghĩa giữ cho còn cái tâm”. Tuân Tử chủ trương tính ác, nhưng ông vẫn khẳng định rằng có thể làm thay đổi cái tính ấy (“kiểu tính” hay “cải tính”) để trở nên người tốt, thậm chí “người ngoài đường cũng có thể trở thành thánh nhân”. Cải tính bằng lễ nghĩa, bằng cách hướng dẫn lòng dục của con người (đạo dục), bằng phương pháp “tư thiện, tích thiện” - tức là suy nghĩ về điều thiện, tích chứa điều thiện, việc thiện, sửa lại cái tính của mình cho ngày càng hoàn thiện.


Và giấc mơ trị quốc


Biết tính người còn là để đề ra phương cách trị quốc. Mạnh Tử kế thừa và phát triển quan niệm của Khổng Tử, cho rằng dùng giáo dục để uốn nắn dân theo đúng đạo nghĩa - giáo hóa; dùng lễ, nhạc để sửa tính tình, phong tục, khoan hòa với dân - đó là nhân trị. Tuân Tử đề cao lễ hơn nhân - lễ để giữ tôn ti, đẳng cấp, trật tự xã hội - và coi trọng hình pháp, tuy nhiên cũng cho rằng không nên quá lạm hình pháp, khác với phái Pháp gia sau này.


Thực tế lịch sử cho thấy, thầy Khổng, thầy Mạnh bôn ba khắp nơi để hành đạo, rao giảng đến cạn lời mà chẳng ông vua nào theo, lấy đức nhân để giáo hóa dân. Trong khi đó, tư tưởng của thầy Tuân lại bị đẩy đến chỗ biến dạng cực đoan bởi những người theo phái Pháp gia như Hàn Phi Tử (mà người ta thường ví như một Machiavelli của phương Đông) để trở thành pháp trị và được các chính trị gia như Lý Tư đem ra thực hành triệt để; khi ấy nó biến thành một thứ chủ nghĩa tôn quân đến mù quáng với lối cai trị bằng mọi thủ đoạn, bằng hình pháp hà khắc, dẫn đến cái họa chôn Nho đốt sách thời Tần. Sau này, giới nho sĩ ít nhắc tới thuyết của Tuân Tử cũng chính vì vậy.


Từ cái vòng nhị nguyên này dẫn tới cái vòng nhị nguyên khác. Nhân trị - pháp trị, một nhát phân đôi tưởng chừng phân minh, hợp lẽ, hóa ra giản lược, phiến diện. Hơn hai ngàn ba trăm năm sau Mạnh Tử, Tuân Tử, qua bao sóng gió thăng trầm của lịch sử, qua bao cuộc khám phá và các đợt khai sáng tư tưởng, một con người lương thiện bình thường cũng hiểu rõ rằng bản chất con người phức tạp hơn nhiều, không phải thiên thần cũng chẳng là quỷ dữ.


Và trên thế gian này chẳng xã hội nào - ngay cả những xã hội có chỉ số hạnh phúc cao nhất hiện nay - mà không có luật hình, không có cảnh sát, nhà tù. Cũng như, chẳng có triều đại nào tồn tại lâu dài mà chỉ dựa lối cai trị độc đoán, hà khắc với đủ thứ hình phạt tàn khốc.


Luật pháp xuất hiện là nhằm minh xác và bảo vệ những giá trị nhân bản được xã hội thừa nhận, là đưa con người vào đúng lề lối cư xử thuận hòa, bảo đảm trật tự, an bình cho xã hội phát triển. Cai trị trên nền tảng luật pháp như vậy thì chẳng mấy khác biệt với tư tưởng nhân trị.


Vấn đề cốt yếu chỉ là ở chỗ, luật pháp ấy được đặt ra vì ai và được thực thi như thế nào: nghiêm chỉnh hay hình thức, nửa vời; để bảo vệ quyền lợi của đại đa số hay chỉ tạo thuận lợi cục bộ, cho các nhóm đặc quyền đặc lợi; có bình đẳng cho mọi người hay vô hiệu đối với giới quyền thế. Nói: nhân không khỏi pháp, trong pháp có nhân là vậy.


Mạnh Tử, Tuân Tử đều là hai triết gia lớn trong lịch sử triết học Trung Hoa. Tuân Tử có cái lý của mình. Còn với thuyết tính thiện, Mạnh Tử được coi là một triết gia lạc quan, có cái nhìn lý tưởng (hay rộng lượng?) về con người. Với đầu óc duy lý, sự đánh giá ấy không hẳn chỉ là lời khen. Riêng với tôi thì Mạnh Tử gần gũi hơn và tôi đã học được nhiều điều từ ông.

http://bee.net.vn/channel/1984/201202/Tu-chuyen-tinh-nguoi-den-viec-tri-nuoc-1825914/

Bệnh lý cột sống và xương khớp

Cột sống được gắn kết xen kẽ bởi các đốt sống và đĩa đệm mà trong đó đĩa đệm đóng vai trò như bộ phận giảm sốc, với những biểu hiện thường gặp và các yếu tố rủi ro dẫn đến nguy cơ mắc bệnh cột sống.

Khi lão hóa, khả năng đàn hồi của đĩa đệm giữa các đốt sống giảm dần trở nên dễ vỡ và một số bộ phận của đốt sống phát triển hơn mức bình thường. Vì vậy, đĩa đệm mất khả năng giảm sốc, gây áp lực và chèn ép lên tủy và nhánh rễ thần kinh tủy. Tổn thương này có thể dẫn đến biểu hiện mất cảm giác, yếu ớt và mất cân bằng. Tuỳ theo khu vực bị chèn ép mà biểu hiện sẽ khác nhau. Tuỳ thuộc vào mức độ chèn ép bộ phận bị chèn ép có thể mất một phần hoặc toàn bộ chức năng.

Một số biểu hiện thường gặp của tình trạng trên như: Cảm giác yếu và mất sức ở các chi; mất cảm giác; thay đổi về chức năng phản xạ; mất khả năng kiểm soát bàng quang (són tiểu), đại tiện (són phân); rối loan cương dương; liệt; đau lưng; đau cổ.

Các yếu tố rủi ro dẫn đến nguy cơ mắc bệnh cột sống: Thường khuân vác nặng, cuối gập người; lão hoá dẫn đến thoái hóa; chấn thương cột sống (thoát vị đĩa đệm); chiều cao; béo phì (tăng áp lực lên các đĩa đệm); hẹp ống sống; hút thuốc (khói thuốc làm giảm hoạt tính của đĩa đệm).

Theo thời gian, các khớp bị ảnh hưởng do sự biến đổi trong sụn và trong mô liên kết. Sụn bên trong khớp bắt đầu mỏng dần và các thành phần của sụn (proteoglycan) bắt đầu thay đổi, tác động đến sự dẻo dai và khiến chúng dễ bị tổn thương. Ở một số bệnh nhân, bề mặt của khớp không trượt lên nhau một cách dễ dàng theo biến đổi của quá trình lão hoá. Quá trình này có thể dẫn đến viêm xương khớp. Mặt khác, các khớp cũng cứng hơn vì mô liên kết trong các dây chằng, gân trở nên sơ cứng và giảm độ đàn hồi. Những biến đổi này làm cho các chuyển động của khớp bị hạn chế.

Đối với một số khớp (như khớp gối), dây chằng (bao quanh và hỗ trợ khớp) thường bị giãn khiến khớp không ổn định. Những vận động đòi hỏi sự di chuyển và va chạm các khớp (như đứng, leo cầu thang, đi bộ...) có thể gây đau nhói. Diễn biến lâu dài sẽ làm hao mòn và thâm chí phá huỷ cấu trúc khớp do sự cọ sát và viêm xương khớp. Trường hợp này cần phải thay khớp, phổ biến là khớp gối và khớp háng.

Viêm xương khớp thường ảnh hưởng đến cột sống mà đau lưng là triệu chứng phổ biến nhất. Thông thường, các đĩa đệm hoặc các khớp bị tổn thương trong cột sống gây đau nhẹ và cứng. Tuy nhiên, viêm xương khớp ở cổ và thắt lưng có thể gây tê, đau và suy nhược ở cánh tay, hoặc chân nếu xương phát triển quá mức chèn lên các dây thần kinh. Xương phát triển quá mức trong ống sống ở thắt lưng (chứng hẹp tủy sống vùng thắt lưng) sẽ gây chèn ép lên các dây thần kinh trước khi các dây thần kinh ra khỏi ống tủy sống truyền xuống chân. Sự chèn ép này có thể gây ra đau chân sau khi đi bộ.


http://www.blogger.com/post-create.g?blogID=1340325182161509174

Sử dụng wifi trong phòng ngủ gây ung thư?

Việc dùng sóng wifi trong phòng ngủ có ảnh hưởng tới sức khoẻ không?

Ông Dương Minh Trí, Phòng ứng dụng Điện - Điện tử, Viện Vật lý TPHCM cho biết: Sóng điện thoại di động, sóng wifi, lò vi sóng, ra đa... có tần số trên 2GHz. Trong dải sóng cao tần này quy định ngưỡng cho phép được tính theo W/m2.
Có một số quy định phổ thông như sau:

Trong phòng ngủ < 0,1mW/m2; Trong nhà < 1mW/m2; Ngoài trời < 10mW/m2. Thực tế, chúng tôi đã đo nhiễu điện từ trường ngay bên dưới các cột ăng ten trung chuyển tín hiệu điện thoại di động, cách chân cột khoảng vài mét cho thấy công suất sóng điện từ có nơi trên 2.000mW/m2 hay vô cực (máy đo không thể chỉ thị được nữa!).

Trị số này lớn gấp nghìn đến triệu lần ngưỡng cho phép bên trong nhà là 1mW/m2 theo quy định một số nước trên thế giới.

Các triệu chứng do nhiễu điện từ trường ảnh hưởng tới sức khoẻ con người như gây rối loạn nhịp sinh học, hệ thống miễn dịch và làm hạ thấp mức melatonin trong cơ thể.

Sự thông tin giữa các tế bào với nhau và hệ thống thần kinh bị điện từ trường tác động mạnh mẽ. Cơ chế sinh ra ung thư do điện từ trường cũng tương tự như các tia phóng xạ, hiệu ứng ion hóa làm biến dị gen và sinh ung thư...

Do đó, vì an toàn sức khoẻ chúng ta nên ưu tiên dùng điện thoại bàn thay vì điện thoại di dộng. Trong phòng ngủ hay phòng trẻ em tránh dùng internet không dây.

Đồng thời, không nên cho xây dựng các cột ăng ten này trực tiếp trên các mái nhà người dân.

http://bee.net.vn/channel/1994/201202/Su-dung-wifi-trong-phong-ngu-1825322/



Gần 800.000 người chết vì động đất trong thập niên qua

Trận động đất ngoài khơi Ấn Độ Dương ngày 26/12/2004 đã làm 227 nghìn người chết. Theo một nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí khoa học Lancet, trong thập kỷ vừa qua, tính đến hết năm 2010, các trận động đất trên thế giới đã trực tiếp, hoặc gián tiếp giết chết 780 nghìn người.


Ngoài ra, nghiên cứu còn nhấn mạnh là những cơn địa chấn trong suốt những năm từ 2001 đến 2010 đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hơn 2 tỷ người trên hành tinh. Trận thiên tai thảm khốc nhất được ghi nhận là vụ động đất tại Haiti hôm 12/01/2010, với cường độ 7 độ Richter nó đã giết chết 316 nghìn nạn nhân. Trong khi đó, trận động đất có cường độ 9,1 độ Richter nổ ra trên Ấn Độ Dượng gây ra sóng thần kinh hoàng hồi tháng 12/2004 đã làm 227 nghìn người chết.

Đứng thứ ba trong quy mô hủy diệt là trận động đất tại tứ Xuyên, Trung Quốc, xảy ra hôm 12/5/2008. Cơn địa chấn này đã làm 87.500 người chết.

Bên cạnh những con số thống kê rùng rợn như trên, nghiên cứu được tạp chí Lancet công bố còn nhằm mục đích đánh động ý thức của các quan chức chính trị và các tổ chức cứu trợ một điều rằng, động đất là một thiên tai giờ đây phải được coi là ưu tiên hàng đầu trong nỗ lực bảo vệ cuộc sống và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu cũng muốn cảnh báo cho giới y học về những bệnh lý mà họ sẽ phải xử lý trong các trường hợp thiên tai này.

Theo các nghiên cứu, trong các trận động đất, có khoảng 1/3 dân cư trong khu vực bị nạn thiệt mạng. Số nạn nhân tử vong do động đất thường gia tăng thành từng đợt liên tục kể từ khi nổ ra. Trước tiên là những người bị chết ngay khi nhà cửa bị đổ sập, vài giờ sau đó đến những người bị thương tử nạn. Đợt tử nạn thứ ba tiếp tục diễn ra sau khoảng vài ngày hoặc vài tuần sau đó.

Với những người sống sót thường thì các cơ quan nội tạng như gan, thận hay cột sống đều có vấn đề. Nghiên cứu nói trên cũng chỉ cho thấy, trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương, chiếm từ 25% đến 53% các bệnh nhân sau động đất.

Ngoài các chiến dịch khẩn cấp tìm kiếm cứu người sống sót, công tác cứu hộ còn phải đối phó với tình trạng bệnh dịch tràn lan ở những khu tập trung đông dân sau động đất, do các xác người chết bị vùi trong đống đổ nát gây ra.

Về lâu về dài, động đất còn gây tác động không nhỏ đến sức khỏe tâm thần cộng đồng. Đó là tình trạng suy sụp tinh thần ở những nạn nhân sống sót.

Cùng với việc gia tăng dân số thế giới và phát triển đô thị trong các vùng có nguy cơ, những nguy hiểm do động đất gây ra còn lớn hơn nhiều trong những năm tới. Đó là cảnh báo của các tác giả nghiên cứu nói trên. Hiện nay các thành phố nằm trong vùng có nguy cơ xảy ra động đất cao thì lại thường là các đô thị siêu lớn tập trung đông dân như Tokyo (32 triệu dân), Mêhico City (15 triệu ), Los Angeles (15 triệu), Istambul ( 9 triệu).


http://www2.vietinfo.eu/tu-lieu/gan-800000-nguoi-chet-vi-dong-d%E1%BA%A5t-trong-thap-nien-qua.html

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng – Yêu thương & thù hận

Tư tưởng của con người có thể sản sinh ra năng lượng rất lớn và nếu được sử dụng đúng cách, năng lượng này không chỉ có thể giúp cải thiện cuộc sống của mỗi cá nhân mà còn làm thay đổi cả thế giới.

Rất nhiều thí nghiệm khoa học đã chỉ ra rằng ý nghĩ của chúng ta có thể làm biến đổi thế giới vật chất. Thật may mắn là các thí nghiệm đó đều rất dễ làm, ai cũng tự làm được, và thú vị tuyệt vời!


Thí nghiệm 1: Cơm của chúng ta

Khi chúng ta gửi đến cơm một thông điệp dạng tiếng nói, chữ viết, âm nhạc, hình ảnh, … thì cơm đều nhận được thông điệp ấy. Cơm sẽ phản ứng lại tương ứng với thông điệp đó. Thông điệp tốt lành thì cơm cũng tốt lành, để 1 tháng vẫn thơm, không mốc hỏng. Thông điệp xấu ác thì cơm xấu, mới để vài ba ngày đã hôi thối, mốc đen.

Cách làm rất dễ:

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 1)

Lấy một ít cơm, chia làm 2 phần bằng nhau, cho vào 2 lọ sạch giống nhau. Đổ lượng nước bằng nhau vào mỗi lọ rồi đậy lại. Dán nhãn một lọ bằng những từ ngữ tốt đẹp đại loại như “Tôi yêu bạn”, “Hạnh phúc”, “Kỳ diệu”, vv… Lọ cơm kia dán nhãn ghi những từ ngữ xấu kiểu như “Đồ ngu”, “Tao sẽ giết mày”, “Đau khổ”, vv… Mỗi ngày một lần nói với mỗi lọ cơm những lời như trên nhãn của nó (thường là 30 giây mỗi ngày), yêu cầu tỉnh táo, tập trung ý nghĩ.

Quan sát kết quả thu được sau một khoảng thời gian (thường là 2 tuần trở lên).

Các bạn sẽ thấy là: Thời gian hàng ngày nói với cơm càng nhiều, tư tưởng phát ra hướng về các lọ cơm càng mạnh, thí nghiệm càng kéo dài thì khác biệt càng rõ.

Có rất nhiều người khác nhau đã thử thực hiện thí nghiệm cơm như thế và các kết quả của họ đều như nhau.

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 2)
Kết quả thu được sau hơn 1 tháng, trong thí nghiệm cơm do Tiến sỹ Masaru Emoto tiến hành

Thí nghiệm cơm này đã được rất nhiều gia đình và nhà giáo trên khắp thế giới thực hiện, với kết quả y hệt như nhau.



Một thí nghiệm cơm khác



Người thực hiện thí nghiệm chia sẻ: “Điều kỳ diệu này không mâu thuẫn với tự nhiên, mà nó mâu thuẫn với những gì chúng ta biết về tự nhiên”

Thí nghiệm này sẽ khiến bạn sửng sốt! Nó thực sự cho thấy tư tưởng và ngôn từ của chúng ta có sức mạnh rất lớn. Hãy thử nghĩ khi bạn đối xử với những người bạn yêu thương bằng lòng tốt và sự biết ơn, và điều đó ảnh hưởng tốt đến họ cả về thể chất lẫn tinh thần ra sao. Qua đó chúng ta hiểu được những suy nghĩ tiêu cực và lòng thù hận có thể tác động xấu đến cuộc sống của thế giới chúng ta mạnh mẽ như thế nào.

Đây là điều gì đó mà bạn cần phải thấy để tin. Hãy thử làm xem! Đó là một cách kinh ngạc để học hỏi về Sức mạnh của ý nghĩ. Con cái của chúng ta bị ảnh hưởng bởi những lời nói và ý nghĩ hướng về chúng, cũng như điều mà thí nghiệm này cho thấy. Bạn đang trút lên con cháu bạn và những người xung quanh những ý nghĩ như thế nào?

Một số nhà nghiên cứu đã mở rộng thí nghiệm này. Chúng ta sẽ dùng 4 lọ cơm. Ngoài 2 lọ “Tôi yêu bạn” và “Đồ ngu”, thêm một lọ “Bạn làm tôi tổn thương nhưng tôi vẫn nguyện cầu phúc lành cho bạn”, và một lọ không gắn nhãn gì cả. Chúng ta lại tiến hành thí nghiệm theo cách giống như thí nghiệm ban đầu.

Ở 2 lọ đầu, kết quả cũng giống như ở thí nghiệm trước. Ở lọ “Tôi yêu bạn” hầu như không có vết mốc nào, cơm trắng tinh. Ở lọ “Đồ ngu” cơm hỏng rất nhanh.

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 3)
Lọ cơm “Tôi yêu bạn” và lọ cơm “Đồ ngu”

Còn ở 2 lọ mới, kết quả sẽ khiến bạn phải suy nghĩ.

Ở lọ cơm có dán nhãn “Bạn làm tôi tổn thương nhưng tôi vẫn nguyện cầu phúc lành cho bạn”, tình trạng của cơm vẫn rất tốt gần bằng như ở lọ “Tôi yêu bạn”. Nó chỉ hơi tệ hơn đôi chút mà thôi. Có một vết mốc nhỏ nằm dưới đáy lọ như trong hình mũi tên chỉ.

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 4)
Lọ cơm “Bạn làm tôi tổn thương nhưng tôi vẫn nguyện cầu phúc lành cho bạn”

Còn ở lọ cơm không gắn nhãn và chúng ta hoàn toàn phớt lờ nó đi, tình trạng cơm cũng rất tồi tệ. Nó chỉ ít tồi tệ hơn lọ “Đồ ngu” một chút.

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 5)
Lọ cơm bị phớt lờ

Lọ cơm “Bạn làm tôi tổn thương nhưng tôi vẫn nguyện cầu phúc lành cho bạn”, điều đó cũng tương tự như điều mà người xưa vẫn gọi là “lấy đức báo oán”, kết quả tốt đẹp. Lọ cơm bị phớt lờ cũng tương tự như những nạn nhân của tình trạng lạnh lùng vô cảm trong xã hội. Chúng ta đều biết sự lãnh đạm thờ ơ cũng có sức tàn phá ghê gớm như thế nào đối với nhân loại.


Thí nghiệm 2: Nước của chúng ta

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 6)

Nhóm của Tiến sỹ Masaru Emoto đã ghi lại hàng triệu mẫu nước kết tinh khác nhau, và cuối cùng đã kết luận rằng: Khi mọi người gửi những thông điệp tốt và xấu khác nhau tới nước, dù là dưới dạng đoạn văn, hình ảnh, âm thanh, đoạn nhạc hay những hình thức khác, thì nước đều thấy được những thông tin đó, và quá trình kết tinh của nó sẽ cho ra những mẫu hình khác nhau. Những thông điệp tốt đẹp, biết ơn và thánh thiện sẽ tương ứng với tinh thể nước tươi đẹp, cân đối và trong sáng. Trong khi những thông điệp của lòng căm hờn, nỗi đau và sự lo lắng sẽ tương ứng với những tinh thể nước xấu xí, vỡ nát, đen tối… Những suy nghĩ khác nhau sẽ đem lại những mẫu nước kết tinh khác nhau.

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 7)
Tinh thể nước được nhận thông điệp “Tình yêu và Cảm ơn”

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 8)
Tinh thể nước nhận thông điệp “Đồ ngu”

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 9)
Tinh thể nước bị nhận thông điệp “Mày làm tao phát ốm, tao sẽ giết mày”

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 10)

Kết quả cùng một nước nhưng cho nghe các loại nhạc khác nhau. Nhạc rock nặng làm tinh thể nước trông thật ghê sợ.


*** Dùng tư tưởng để xử lý ô nhiễm nước

Trên thế giới có những nhóm người đã thử sử dụng ý nghĩ để xử lý ô nhiễm nước. Hàng trăm người đã thể hiện ý nghĩ tốt đẹp trước một cái hồ bị ô nhiễm. Một vài ngày sau, những đám tảo mục nát trong hồ đã biến mất và nước hồ đã trở nên sạch hơn, và điều này kéo dài được 6 tháng.

Những thí nghiệm này cũng cho chúng ta hiểu lý do tại sao ngày nay có nhiều thảm họa thiên nhiên đến như vậy. Trên thế giới có 7 tỷ người. Nếu tư tưởng của 1 tỷ người là xấu xa thì không chỉ hành vi của họ tàn phá thế giới mà ngay cả những suy nghĩ của họ cũng gây thảm họa cho thế giới. Bởi vì, ý nghĩ của chúng ta có thể thay đổi môi trường và thực tại, do đó khi chúng ta có những suy nghĩ tốt đẹp, nói chuyện ân cần, làm những việc tốt và sống tốt, ví dụ như hàng triệu người cùng cầu nguyện bằng những tư tưởng chính trực và nhân từ, thì chúng ta có thể thay đổi cả thế giới này.

Xin hãy nhìn xem những hình ảnh sau đây:

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 11)
Nước máy lấy tại Higashi Nihonbashi trước khi nhận được nguyện cầu
Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 12)
Nước máy từ chính chỗ đó nhưng sau khi nhận được thông điệp tốt lành trong 10 ngày

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 13)
Hình ảnh này được chụp 3 ngày sau khi tai nạn hạt nhân xảy ra ở Tokaimura, Nhật Bản vào tháng 9/1999. Tinh thể của nước được lấy từ một cái giếng, cách hiện trường vụ tai nạn hạt nhân khoảng 400 mét. Chúng ta có thể thấy tác động rõ ràng của phóng xạ ở đây
Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 14)

Hình ảnh của tinh thể nước cũng tại giếng đó, sau khi những thông điệp yêu thương và cảm thông được gửi tới nơi này

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 15)
Tinh thể nước lấy từ đập Fujiwara trước khi được nguyện cầu. Nước ở đây ô nhiễm nặng.
Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 16)

Tinh thể nước lấy từ đập Fujiwara sau khi được nguyện cầu

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 17)
Tinh thể nước được lấy từ Kobe Nhật Bản ngay sau khi trận đại động đất Hanshin-Awaji xảy ra

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 18)

Tinh thể nước cùng nơi đó 3 tháng sau, khi khu vực này được quan tâm chia sẻ từ những người lương thiện khắp thế giới

Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 19)
Nước máy tại Tokyo
Bí ẩn của sức mạnh tư tưởng - Yêu thương & thù hận (kỳ1) - Tin180.com (Ảnh 20)

Nước máy tại Tokyo sau khi nhận được những tư tưởng tốt lành do một nhóm 500 người phát đến

Thuyết lượng tử đối với các thí nghiệm sức mạnh tư tưởng

Các thí nghiệm tương tự cũng chỉ ra rằng không chỉ nước có khả năng tiếp nhận và phản ứng với các dòng tư tưởng, mà thực vật, cơm và những vật chất khác cũng có khả năng này. Các nhà khoa học vật lý lượng tử đã chứng minh rằng tất cả mọi năng lượng của vũ trụ này có quan hệ qua lại lẫn nhau và vì vậy những thông điệp trên thế giới này đều có ảnh hưởng tới nhau. Khoa vật lý lượng tử cũng chứng tỏ rằng ý thức rất quan trọng trong việc định hình thực tại vật lý. Trong trường hợp thí nghiệm với nước thì năng lượng tư tưởng đã làm thay đổi cấu trúc tinh thể của phân tử nước. Không phải ngẫu nhiên mà người Trung Quốc có câu “Trong lòng nghĩ suy gì, trời đất đều biết cả”.

Trong nhiều thế kỷ, mọi người luôn tranh cãi với nhau rằng “cái nào có trước” – ý thức hay vật chất. Những thí nghiệm hết sức thực tại này đã chứng tỏ ý thức và vật chất chỉ là 2 mặt của một đồng tiền, quyện vào nhau. Chúng tuy hai mà một.

Những “nhà khoa học chủ lưu” nói rằng các thí nghiệm của Tiến sỹ Masaru Emoto là “không có thật”, hoàn toàn phớt lờ một cách giản tiện.

Nhưng sự thật vẫn là sự thật dù họ có thích sự thật hay không. Rất nhiều các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp lẫn nghiệp dư đều dễ dàng lặp lại các thí nghiệm của Tiến sỹ Masaru. Ngay cả bạn cũng có thể tự làm thử thí nghiệm đơn giản với cơm và làm cho bạn bè của bạn phải thốt lên rằng: “Thật tuyệt vời, trời ạ, chuyện này là sự thật!!!”.


http://tin180.com/khoahoc/bi-an-the-gioi/20120117/bi-an-cua-suc-manh-tu-tuong-yeu-thuong-thu-han-ky-1.html

Tiên tri Maya

“Who will survive 2012?” Đây là câu hỏi mà đạo diễn điện ảnh nổi tiếng Roland Emmerich dành cho khán giả trong bộ phim “2012″ gây tiếng vang lớn được công chiếu toàn cầu từ ngày 13 tháng 11 năm 2009. Trong cuộc sống bận rộn này, liệu ai có thể tĩnh tâm đưa ra một câu hỏi về tương lai và tìm kiếm phương hướng giải thoát nhân loại khỏi tai họa?

Bộ phim “2012″ đã mô tả sức mạnh vô địch không thể cưỡng lại của tự nhiên: lục địa đứt gẫy, bản khối dời chuyển, hồng thủy và sóng thần tàn phá, kiến trúc nhân tạo không thể trụ vững, tượng Chúa Jesus ở Rio de Janeiro rơi vỡ tan, Nhà thờ Thánh Peter ở Vatican đổ xuống ầm ầm, các chính phủ và truyền thông hoàn toàn tê liệt, con người cầu khấn nhưng không thay đổi được tình hình, trong ánh mắt lộ rõ nét sợ hãi bất lực, v.v.

Kỳ thực, đối với kiếp nạn của nhân loại và tai nạn của địa cầu, con người đã không còn xa lạ. Loài khủng long năm xưa từng thống trị trái đất, trên thế giới ngày nay đã không còn dấu vết; dịch bệnh “cái chết đen” bùng phát tại Châu Âu thời Trung Cổ đã lấy đi mạng sống của 30% dân số nhân loại; dịch cúm lớn tại Tây Ban Nha năm 1918 gây ra cái chết của ít nhất 20 triệu người; hay trận động đất lớn tại Vấn Xuyên, Tứ Xuyên, Trung Quốc lúc 14 giờ 28 phút 4,1 giây ngày 12 tháng 5 năm 2008 khiến ít nhất 70.000 người tử vong. Những con số không còn lạ lẫm này chứng tỏ nhân loại vào mỗi thời khắc đều có thể đối diện với nguy hiểm chết người.

Bộ phim “2012″ lấy cảm hứng từ lời tiên tri của người Maya, mà tiên tri của người Maya lại xây dựng dựa trên cơ sở lịch pháp. Loại phương thức tiên tri này rất tương tự “Chu Dịch” của người Trung Quốc, đều là nghiên cứu quan hệ đối ứng giữa quy luật vận hành của thiên thể và biến đổi ở xã hội nhân loại. Nhà sử học, tiến sĩ Jose Arguelles người Mỹ đã dành trọn cả đời để nghiên cứu nền văn minh Maya. Tác phẩm “Hiệu ứng Maya” (The Mayan Factor: Path Beyond Technology do Bear&Company xuất bản năm 1973) của ông đã khảo sát chi tiết về lịch pháp Maya, trong đó chứng minh rằng Thái Dương hệ của chúng ta đang trải qua thời kỳ cuối cùng của “đại chu kỳ” (The Great Cycle) kéo dài hơn 5.000 năm. Thời gian là từ năm 3.113 TCN đến hết năm 2012 SCN. Trong “đại chu kỳ” này, sự vận động của địa cầu và Thái Dương hệ tiến vào “xạ tuyến ngân hà” (Galatic Beam) của hệ Ngân Hà. Mặt cắt ngang của xạ tuyến này có đường kính của 5.125 năm trái đất. Nói cách khác, địa cầu phải mất 5.125 năm để đi qua đường xạ tuyến này.

Giai đoạn cuối cùng của “đại chu kỳ” theo lịch pháp Maya, trong đó Unial cuối cùng từ năm 1992 đến 2012 (Ảnh: Chánh Kiến Net)

Người Maya tin rằng các hành tinh trong Thái Dương hệ, sau khi chịu ảnh hưởng của xạ tuyến ngân hà trong “đại chu kỳ”, sẽ phát sinh biến hóa về căn bản, gọi là “đồng bộ với hệ Ngân Hà” (Galatic Synchronization). Theo cách tính của người Maya, “đại chu kỳ” này lại phân thành 13 giai đoạn (Baktun), và diễn hóa của mỗi giai đoạn đều được ghi lại rất đầy đủ. Trong cuốn sách “Hiệu ứng Maya”, tiến sĩ Arguelles đã dùng một lượng lớn hình vẽ để thuyết minh tình huống diễn hóa mỗi giai đoạn này, lại phân mỗi giai đoạn thành 20 thời kỳ diễn hóa (Unial). Mỗi thời kỳ này kéo dài khoảng 20 năm.

Trong thời kỳ cuối cùng, từ năm 1992 đến 2012 (Unial cuối cùng của Baktun thứ 13), địa cầu của chúng ta sẽ tiến nhập vào giai đoạn cuối cùng của “đại chu kỳ” 5.125 năm. Người Maya cho rằng đây là giai đoạn cực kỳ trọng yếu trước khi địa cầu “đồng bộ với hệ Ngân Hà”, và gọi là “thời kỳ canh tân địa cầu” (Earth Regeneration Period). Trong thời kỳ này, địa cầu sẽ hoàn toàn đạt tới tịnh hóa (Earth Purification), và sau khi canh tân, địa cầu sẽ vượt qua xạ tuyến ngân hà để tiến vào giai đoạn “đồng bộ với hệ Ngân Hà”. Tiến sĩ Arguelles còn kết hợp với Chu Dịch của Trung Quốc và mật mã di truyền, v.v. từ nhiều góc độ khác nhau, với những phép tính phức tạp, để giải thích biến hóa thiên tượng này cho độc giả.

Đồng bộ với hệ Ngân Hà (Ảnh: Chánh Kiến Net)

Ngày 21 tháng 12 năm 2012, theo lịch pháp dài (Long Count Calendar) của người Maya, là ngày kết thúc văn minh nhân loại lần này. Sau đó, nhân loại sẽ tiến nhập vào một nền văn minh hoàn toàn mới không có quan hệ gì với nền văn minh hiện tại. Vào ngày Đông chí này (Winter Solstice), mặt trời, hoàng đạo (Ecliptic) và xích đạo (Equator) của hệ Ngân Hà sẽ hình thành một điểm giao hội hoàn toàn trùng khớp. Khi ấy mặt trời nằm vừa đúng trong khe của hệ Ngân Hà, hoặc có thể nói là hệ Ngân Hà “tọa lạc” ngay tại địa cầu, cũng giống như mở một “cánh cổng trời” (thiên môn) trên địa cầu. Người Maya không đề cập cụ thể nguyên nhân gì khiến nền văn minh lần này kết thúc, và cũng không ám chỉ rõ ràng đại kiếp nạn nào đó sẽ tới. Thay vào đó, họ nhấn mạnh vào sự chuyển biến và tỉnh giác về phương diện ý thức và tinh thần của toàn nhân loại (Cosmic Awareness and Spiritual Transition), từ đó tiến nhập văn minh mới. Năm 755 SCN, một thầy tu Maya đã tiên tri rằng: sau năm 1992, nhân loại sẽ có hai sự kiện lớn phát sinh — tỉnh giác về ý thức vũ trụ của nhân loại (Cosmic Awareness) và tịnh hóa, tái sinh của địa cầu (Earth Purification and Renewal).

Lịch pháp thần bí của người Maya đã tiết lộ quy luật vận động tất nhiên của Ngân Hà, nó cũng giống như bốn mùa ở trái đất, là không thể kháng cự. Như vậy, 20 năm cuối cùng, từ năm 1992 đến năm 2012 trong “đại chu kỳ” mà người Maya nói tới, địa cầu “tịnh hóa” và “canh tân” như thế nào? Các giáo sĩ truyền giáo Tây Ban Nha xâm nhập vào thế kỷ 16 gần như đã phá hủy hoàn toàn sử liệu của người Maya, chỉ để lại tiên tri Maya, khiến người đời sau rất khó lần ra manh mối. Tuy không rõ ràng về “tịnh hóa” và sự tỉnh giác ý thức nhân loại rốt cuộc là gì, nhưng người đời sau vẫn suy xét và nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này.


Lịch pháp thần bí của người Maya kết thúc vào năm 2012 (Ảnh: Chánh Kiến Net)

Ngoài ra, trong lời tiên tri của bộ lạc Hopi ở Bắc Mỹ cũng nhắc tới khái niệm chu kỳ và tịnh hóa, nhưng họ nói rằng sau khi kết thúc tịnh hóa, những người lương thiện sẽ tiến nhập vào một kỷ nguyên mới tốt đẹp. Điều này tương tự đến lạ thường với các dự ngôn cổ đại Trung Quốc như “Mã Tiền Khóa”, “Mai Hoa Thi”, “Thiêu Bính Ca”, v.v. Còn trong các tiên tri Tây phương đều có khái niệm về “đại thẩm phán”. Tiên tri của các dân tộc khác nhau tuy hình thức bất đồng, nhưng đều có chung một nội hàm tinh thần. Đây là điểm rất thú vị, rất đáng để chúng ta suy ngẫm, rốt cuộc cứu cánh là nằm ở đâu? Sự tỉnh giác ý thức vũ trụ của nhân loại rốt cuộc là chỉ điều gì? Làm sao để tiến nhập thời đại mới tốt đẹp?

Như vậy, chúng ta thử nhìn lại năm 1992 xem rốt cuộc nhân loại có phát sinh sự tỉnh giác tinh thần nào không? Tháng 5 năm 1992, môn tu luyện Pháp Luân Đại Pháp (còn gọi là Pháp Luân Công) được truyền xuất tại Trung Quốc Đại Lục. Cho tới nay, đã gần 20 năm trôi qua, người ta phát hiện rằng bất chấp cuộc bức hại tàn khốc của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Pháp Luân Đại Pháp vẫn hồng truyền tại hơn 114 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, với phương thức người truyền người, tâm truyền tâm, giúp hơn 100 triệu người thân tâm thụ ích. Sách của Pháp Luân Công đã được phiên dịch thành 39 thứ tiếng và phát hành rộng rãi tại các nơi trên thế giới. Bên ngoài Trung Quốc, Pháp Luân Công nhận được hơn 1.800 bằng khen và nghị quyết ủng hộ các loại. Các học viên Pháp Luân Công gần như có mặt trong tất cả mọi giai tầng xã hội, từ giáo sư, học sinh, nhân viên chính phủ cho đến người bán hàng, từ dân chúng bình thường cho đến quan chức, từ tiến sĩ cho đến người mù chữ, từ đứa trẻ 3 tuổi cho đến cụ già 90 tuổi, không đâu là không bắt gặp bóng dáng các học viên Pháp Luân Công. Vượt khỏi giới hạn về tuổi tác, giới tính, địa lý, chủng tộc, tín ngưỡng tôn giáo, nền tảng văn hóa, giai tầng xã hội, sự phổ biến toàn diện của Pháp Luân Công tựa như ngọn hải đăng tỏa sáng khiến đạo đức của toàn nhân loại thăng hoa lên một nấc thang mới. Phải chăng đây chính là sự tỉnh giác toàn diện về ý thức và tinh thần của nhân loại trong lời tiên tri của người Maya?

Cảnh luyện công tập thể của các học viên Pháp Luân Công tại Đài Loan (Ảnh: Chánh Kiến Net)

Thời gian trôi qua thật mau, thời điểm tối hậu mà các lời tiên tri đề cập có lẽ đang đến gần. Để biết thêm về Pháp Luân Đại Pháp, xin các bạn vào trang: phapluan.org


Chữ trinh còn một chút này...

Trung thành với cái toàn bộ

Văn hoá và triết học đều đã được hiện đại hoá, nghĩa là, cả hai đều đã được phi – tập trung hoá và trở nên phản tỉnh hoàn toàn. Văn hoá không còn có một trung tâm duy nhất, đồng thời không dựa vào một cơ sở nào khác (tự nhiên, thần linh, quyền uy) ngoài bản thân văn hoá. Triết học – như là bộ phận và tấm gương soi của văn hoá – cũng trở thành một thành viên bình đẳng và khiêm tốn bên cạnh các ngành khoa học khác, đồng thời từ bỏ thế đứng tuyệt đối, bắt đầu tập suy tư trong viễn tượng hữu hạn của nhận thức và thân phận làm người. Một sự song hành tỏ ra rất hài hoà và đồng điệu! Nhưng, vấn đề thật ra không hề đơn giản, hay, theo cách nói quen thuộc hiện nay, đặt ra nhiều thách thức cho cả hai phía.


Về phía văn hoá, đó là phải giải quyết mối quan hệ giữa một “thuyết đa nguyên về giá trị” theo cách gọi nổi tiếng của triết gia Jesaja Berlin với việc thừa nhận và tôn trọng các giá trị văn hoá phổ quát toàn nhân loại. Theo giác độ đa nguyên về giá trị, chẳng hạn, đối với người phụ nữ, việc chọn lựa thiên chức làm mẹ hoặc cuộc sống đơn thân và xuất gia của người nữ tu sĩ là hai giá trị có tính “vô ước”, nghĩa là không thể mang ra so sánh với nhau, mà phải được tôn trọng như nhau. Nhưng, mặt khác, chính sự tôn trọng tính đa nguyên giá trị (tương phản, nhưng đồng đẳng) này lại là một trong những giá trị văn hoá phổ quát, bên cạnh các giá trị phổ quát khác như nhân phẩm, tự do và dân quyền. Giải quyết được mối quan hệ phức tạp này là đặc trưng tiêu biểu cho thành tựu có ý nghĩa lịch sử của nền văn hoá hiện đại.

Về phía triết học, ta đều biết rằng, ngay từ khi ra đời, ở phương Đông cũng như phương Tây, triết học luôn xoay quanh câu hỏi về cái toàn bộ và về cuộc sống đúng đắn của con người trong cái toàn bộ ấy. Trước kinh nghiệm về sự đa dạng, đa thanh của tiến trình hiện đại hoá văn hoá, câu hỏi này không mất đi, trái lại, được đặt lại một cách hoàn toàn mới mẻ. Tính cấp bách của câu hỏi không giảm đi, mà còn tăng thêm trong lịch sử hiện đại hoá. Thật thế, tính hiện đại của văn hoá không chỉ mang lại lợi ích, mà cả gánh nặng. Nó tăng cường sự tự do cá nhân, đồng thời làm cho mỗi cá nhân không dễ dàng có được cái nhìn toàn cảnh nữa, bởi mọi lĩnh vực đều trở nên quá phức tạp, hầu như vượt khỏi khả năng nắm bắt của từng con người. Điều đó giải thích sự quan tâm có tính triết lý của con người thời đại, mặc dù không phải ai cũng có điều kiện biến mối quan tâm triết lý ấy thành sự quan tâm đến triết học như một ngành học thuật chuyên biệt!

Mối quan tâm ấy – dù chỉ có tính triết lý tự phát hay trở thành sinh hoạt triết học tự giác – nói lên sự trung thành với ưu tư truyền thống của con người đối với cái toàn bộ.

Trong nhận thức

Cái toàn bộ bao giờ cũng lý thú. Tuy bị vượt ra khỏi tầm mắt khi đi vào thế giới hiện đại, con người vẫn khao khát muốn biết cái đa tạp, cái rời rạc và những cái thường mâu thuẫn nhau nối kết với nhau hay ăn nhịp với nhau như thế nào. Ta thường gọi đó là chức năng “thế giới quan” của triết học. Thế giới quan thì bao giờ cũng là “số ít”, bởi người ta thường không có hay không cần một lúc hai hay nhiều thế giới quan! Vì thế, các hệ thống triết học, nhất là vào thế kỷ 18 – 19, tin chắc nịch rằng có thể đáp ứng chức năng thế giới quan này bằng các phương tiện khoa học, thậm chí tự xem mình là khoa học duy nhất đúng đắn. Ngày nay, ta khác họ không chỉ ở những kiến thức mới về khoa học, mà chủ yếu ở một tâm thế khác. Ý thức về sự hữu hạn đã không còn dành chỗ cho lòng tin rằng có thể giải đáp cho mọi câu hỏi và giải đáp một cách tối hậu.

Trong thực hành

Chức năng thế giới quan không đứng được một mình, vì còn phần thứ hai của câu hỏi về cái toàn bộ: con người sống ra sao trong cái toàn bộ ấy. Đầu thời cận đại, Spinoza đã đặt tên cho siêu hình học là “đạo đức học”, và ta không quên Hegel cũng đã hứa hẹn rằng triết học sẽ “hoà giải với hiện thực”! Từ thế kỷ 19 và sau Hegel, câu hỏi thứ hai này được nêu một cách chính xác hơn: câu hỏi về ý nghĩa. Câu hỏi về ý nghĩa là câu hỏi về việc hiểu đời, về nhân sinh quan. Ở đây không hỏi về cái gì bổ sung cho tri thức của ta về thế giới (tức cho “thế giới quan”), trái lại, hỏi về cái làm cho ta “hiểu” được cái toàn bộ ấy, nhất là từ khi thế giới ngày càng có nguy cơ rơi vào bóng tối của sự vô nghĩa (tức, chủ nghĩa hư vô theo cách gọi của Nietzsche).

“Ý nghĩa” nói ở đây không phải là nội dung của ký hiệu và văn bản, mà là mục đích, chức năng, giá trị, tầm quan trọng đối với cuộc đời và hành động của chúng ta. Theo Thomas Nagel, triết gia đang giảng dạy tại đại học New York, đó là các câu hỏi thiết thân: chuyện gì vậy? Liên quan gì đến tôi? Có nghĩa gì thế? Cho tôi, cho bạn? Ai hỏi như vậy, người ấy không muốn bổ sung kiến thức, mà cần sự định hướng.

“Ý niệm điều hành”

Chức năng thế giới quan và chức năng định hướng đều tuân theo một lôgích nội tại: hướng đến cái nhìn tổng thể từ sự đa tạp, manh mún. Ta chỉ có thể sử dụng đúng đắn tấm bản đồ ở phạm vi nhỏ khi biết đặt nó vào trong tấm bản đồ có phạm vi rộng hơn, để sau cùng đến định vị toàn cầu. Đó chính là luận điểm cơ bản của Kant khi ông cho rằng lý tính con người tất yếu hướng đến cái toàn bộ như là cái tuyệt đối vô điều kiện trong nhận thức cũng như trong hành động, khi ưu tư về những vấn đề có tính nguyên tắc. Nhưng, vào thời tiền – hiện đại, con người còn nuôi ảo tưởng có thể nắm bắt cái toàn bộ tuyệt đối ấy bằng con đường xác định, khẳng quyết, giáo điều, như một chân lý không thể suy suyển. Tư duy hiện đại, hậu – phê phán vẫn giữ vững niềm khao khát ấy như là chỉ dấu của sự tự do và phẩm cách của con người. Khác chăng là ở chỗ xuất phát từ hai đặc điểm đã nói của nền văn hoá hiện đại: tính đa dạng và tính hữu hạn của lý tính.

Trong nhận thức lẫn hành động, việc vươn tới cái toàn bộ thống nhất phải được hiểu như một “ý niệm điều hành” có giá trị chỉ như một định hướng, một hoài bão, chứ không phải là một trạng thái đã hoàn tất, có thể chiếm hữu một lần cho tất cả. Chỉ trong viễn tượng ấy, triết học mới có chỗ đứng chính đáng và thuyết phục trong cuộc “đại diễn ngôn” của một xã hội đa văn hoá và toàn cầu hoá ngày nay.

http://bee.net.vn/channel/1984/201201/Chu-trinh-con-mot-chut-nay-1822315/

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'

Theo quan niệm của người phương Tây thì thứ 6 là ngày xấu nhất trong tuần và ngày 13 là ngày xấu nhất trong tháng, vì vậy nên khi hai điều đó kết hợp với nhau, thứ 6 ngày 13 đã tạo nên một nỗi sợ hãi lớn.

Người ta thậm chí còn đặt hẳn cho hội chứng sợ thứ 6 ngày 13 một cái tên, đó là "paraskevidekatriaphobia", trong đó "paraskevi" là thứ 6, "dekatria" là số 13 và "phobo" là nỗi sợ hãi (theo tiếng Hy Lạp).

Bằng toán học, người ta đã chứng minh được rằng một năm bất kì có ít nhất một thứ 6 ngày 13 và nhiều nhất là ba ngày. Một năm có ba thứ 6 ngày 13 khi và chỉ khi ngày đầu năm là thứ 5 (đối với năm không nhuận) hoặc Chủ nhật (đối với năm nhuận).

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'

Từ thời cổ đại, trong nhiều nền văn hóa, người ta đã coi con số 13 là một con số đem đến xui xẻo và chết chóc. Việc người ta “kì thị” con số này thể hiện ở rất nhiều việc như những tòa cao ốc không có tầng 13, các bệnh viện không có phòng số 13, các sân bay không có cổng đón khách số 13, trên các máy bay không có ghế ngồi số 13, ca bin số 13 cũng không xuất hiện trên tàu thủy.

Một lý do được đưa ra để lý giải cho điều này là việc số 13 đứng ngay sau số 12, một con số được coi là đẹp và hoàn hảo. Vì vậy mà chúng ta có 12 tháng trong năm, 12 cung hoàng đạo, 12 con giáp, 12 vị thần của Olympus, 12 sứ mệnh của Hercules, 12 tông đồ của Jesus…

Ngày thứ 6 cũng “chịu tiếng xấu” khi xuất hiện trong rất nhiều truyền thuyết. Adam và Eve bị đuổi khỏi vườn địa đàng vào ngày thứ 6, sau khi nếm thử Trái Cấm. Trận Đại hồng thủy Chúa dùng để trừng phạt loài người xảy ra vào thứ 6, ngôi đền của Solomon bị hủy diệt vào ngày thứ 6, và không thể không kể đến, ngày Chúa Jesus bị đóng đinh vào cây thánh giá cũng chính là ngày thứ 6.

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'

Tuy nhiên, liệu có phải nỗi sợ này chỉ là một sự mê tín dị đoan vô căn cứ hay đó là một điều bí ẩn mà khoa học chưa thể tìm ra lời giải đáp thích đáng? Dù câu trả lời là gì đi nữa thì trong thực tế, không ít những câu chuyện, những con số đã được ghi chép lại về sự xui xẻo của thứ 6 ngày 13, khiến cho người ta không khỏi lo ngại.

Hãy cùng điểm lại một vài sự kiện liên quan đến thứ 6 ngày 13:

13/10/1307

Vua Philip đệ IV của Pháp sai binh lính bắt hàng nghìn thầy tu từng chiến đấu trong thời kỳ Thập tự chinh vì tội thực hiện những hành động trái pháp luật. Không có bất kỳ tội danh nào được chứng minh, song vài trăm người buộc phải nhận tội do bị bức cung. Hơn 100 người đã chết vì bị tra tấn và hành quyết.

13/8/1521

Quân đội Tây Ban Nha tiêu diệt đế chế Aztec, đổi tên thủ đô Tenochtitlán của đế chế suy vong thành Mexico City.

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'
Thứ 6 ngày 13 là ngày đánh dấu sự kết thúc của đế chế huy hoàng Aztec.

13/9/1940

5 quả bom của phát xít Đức rơi trúng cung điện Buckingham và phá hủy nhà thờ trong cung điện.

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'

13/7/1951

Một trận hồng thủy đã cướp đi mạng sống của 24 người, hủy hoại hơn 2 triệu hecta đất ở Kansas, gây thiệt hại đến 760 triệu USD.

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'
Hình ảnh hậu quả của trận hồng thủy ở Kanas vào ngày 13/7/1951

13/6/1952

Thống đốc bang Massachusetts, ông Kyle McArthur đã ra lệnh cấm tất cả ô tô cá nhân lưu thông trong thứ 6 ngày 13/6/1952. Lệnh cấm này của thống đốc buộc người dân phải sử dụng các phương tiện giao thông công cộng. Hậu quả là 9 chiếc xe buýt đâm vào nhau ở thành phố Boston. Tất cả xe buýt gặp nạn đều quá tải vì chở nhiều hành khách.

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'

13/3/1964

Trận động đất lớn nhất trong lịch sử của Bắc Mỹ xảy ra vào 13/3/1964, cướp đi mạng sống của 131 người gần Prince William Sound.

13/11/1970

Một cơn bão lớn tại Nam Á giết chết khoảng 300.000 người ở Chittagong, Bangladesh. Những trận lũ lụt do bão gây nên cũng khiến khoảng 1 triệu người ở vùng châu thổ sông Hằng mất mạng.

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'

13/7/1987

Một cơn lốc vòi rồng mạnh đã càn quét Edmonton, Alberta, giết chết 27 người và làm bị thương ít nhất 300 người.

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'

13/1/1989

Virus mang tên “Thứ 6 ngày 13” tấn công vài trăm máy tính của hãng IBM trên lãnh thổ nước Anh, phá hủy các file chương trình. Dư luận thế giới hoang mang bởi vào thời điểm đó người ta chưa từng chứng kiến việc virus máy tính tấn công trên diện rộng.

13/3/1992

Một trận động đất cướp đi sinh mạng của gần 2.000 người và đánh sập nơi cư ngụ của 50.000 người khác ở Thổ Nhĩ Kỳ.

Bí mật về nỗi ám ảnh mang tên 'thứ Sáu ngày 13'

Ngoài một số sự kiện nổi bật như trên, cũng có nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận lượng tai nạn tăng đột biến một cách bất thường vào thứ 6 ngày 13. Liệu những điều này có một căn cứ khoa học xác đáng nào hay không, có vẻ đó là một câu hỏi vẫn còn đang để ngỏ. Nhưng thứ 6 ngày 13 vẫn tiếp tục mang đến nỗi lo ngại cho rất nhiều người trên thế giới, đồng thời cũng là chủ đề được yêu thích trong rất nhiều bộ phim và tiểu thuyết nổi tiếng.

Một số nhà khoa học đã hướng đến giả thiết rằng mọi người bị ám ảnh quá nhiều bởi nó, nỗi sợ này như một kiểu “tự kỉ ám thị” vậy. Lời khuyên tốt nhất được đưa ra là vào những ngày này, chúng ta nên hướng những suy nghĩ tiêu cực sang tích cực để giảm bớt căng thẳng và phòng tránh tai nạn.

Theo PLXH/Kênh 14