CHU KỲ 7

 
31
SƠN LÔI
DI
477
6
THIÊN THỦY
TỤNG
552
41
THỦY THIÊN
NHU
447

34
TRẠCH PHONG
ĐẠI QUÁ
468


52
LÔI SƠN
TIỂU QUÁ
414
13
PHONG TRẠCH
TRUNG PHU
531
59
ĐỊA HỎA
MINH DI
393
24
HỎA ĐỊA
TẤN
498

 
1. Giáp Tý - Hỏa Địa Tấn, hào 1 (1 ~ 49)
- “Sơ Lục, tấn như tồi như, trinh cát ; võng phu, dụ vô cữu.”
- “Sáu Đầu, sự tiến thịnh khởi đầu đã bị ghìm lui chắn lại, giữ chính thì được tốt lành ; hãy tạm ung dung đợi thời thì không gặp cữu hại”.
- Tượng “Tấn như tồi như, độc hành chính dã” - Khởi đầu đã bị ghìm lui chắn lại, nói lên Sáu Đầu nên riêng tự đi theo chính đạo ; “Dụ vô cữu, vị thụ mệnh” - Tạm đợi thời thì không cữu hại, nói lên Sáu Đầu trước mắt còn chưa được chựu mệnh. Sáu Đầu nhu tiến là bậc quân tử, tiến lui theo lễ nghi. Âm mềm ở dưới, trước mặt có hai hào âm, là “địch”, bị hai hào âm này ngăn trở, khó có ngay lòng tin nơi mọi người. Người thường không được (lòng) tin, thì có người vội tiến để cầu việc làm, có người vội lui thì oán hận người trên không biết (mình).

2. Ất Sửu - Thủy Thiên Nhu, hào 4 (2 ~ 50)
- “Lục Tứ, nhu vu huyết, xuất tự huyêt.”
- “Sáu Bốn, chờ đợi trong vũng máu, mà thoát khỏi được từ nơi hang sâu”.
- Tượng “Nhu vu huyết, thuận dĩ chính dã” - Chờ đợi trong vũng máu, ý nói Sáu Bốn bình tĩnh để chờ, nghe ngóng thời thế. Sáu Bốn ở ngôi dưới Khảm hãm, vào nơi hiểm mà bị hại, mềm mà được chính, đành chờ đợi mà lui về nghe ngóng, cho nên thoát khỏi nơi hãm hiểm.

3. Bính Dần – Phong Trạch Trung phu, hào 6 (Bính Canh - Trạch Phong – Phong Trạch)
- “Thượng Cửu, hàn âm đăng vu thiên, trinh hung.”
- “Chín Trên, tiếng chim kêu khi đang bay vang khắp bầu trời (hư thanh nghe xa mà đức thành tín trung thực không tiếp nối), tất phải giữ chính bền để phòng hung hiểm”.
- Tượng “Hàn âm đăng vu thiên, hà khả trường dã” - Tiếng kêu vang khắp bầu trời, hư thanh này làm sao mà giữ được lâu dài ! Chín Hai nói “minh hạc tại âm”. Chín Trên nói “hàn âm đăng thiên”: một hào thì trung thực, một hào thì giả dối, thật là một sự phản chiến.

4. Đinh Mão – Lôi Sơn Tiểu quá, hào 2
- “Lục Nhị, quá kỳ tổ, ngộ kỳ tỷ ; bất cập kỳ quân, ngộ kỳ thần, vô cữu.”
- “Sáu Hai, vượt qua ông mà gặp bà ; song không lấn được vua, vua do đó gặp được bề tôi, tất không lỗi”.
- Tượng “Bất cập kỳ quân, thần bất khả quá dã” – Không lấn được vua, nói lên Sáu Hailà bề tôi không thể vượt qua được bậc chí tôn. Được vô cữu chính là vì Sáu Hai ở giữa cái vòng ổn thỏa tốt đẹp của sự “quá” và “bất quá”, được thích đáng về thời, về phận mà không thiên lệch.

5. Mậu Thìn – Địa Hỏa Minh di, hào 2
- “Lục Nhị, minh di ; di vu tả cổ, dụng trửng mã tráng, cát.”
- “Sáu Hai, sự sáng bị tổn thương, khiến đùi trái bị thương, sau đó nhờ ngựa tốt (kéo cỗ xư bốn bánh) cứu giúp, dần dần sẽ khỏe trở lại, tốt lành”.
- Tượng “Lục Nhị chi cát, thuận nhi tắc dã” - Sự tốt lành của Sáu Hai, nói lên nó đã mềm thuận lại ở ngoài, mà trong thực văn minh, có thể kiên trì giữ được phép tắc.

6. Kỷ Tị - Thiên Thủy Tụng, hào 6
- “Thượng Cửu, hoặc tích chi bàn đái , chung triêu tam sỉ chi.”
- “Chín Trên, ngẫu nhiên có khi được ban phẩm tứ (do thắng kiện), triều phục có đai lớn của bậc hiển quý, nhưng có thể chỉ trong một ngày lại bị tước đoạt nhiều lần”.
- Tượng “Dĩ tụng thụ phục, diệc bất túc kính dã” – Do kiện tụng mà được ban thưởng quan lộc, điều này không đáng được tôn trọng. Chín Trên đi kiện tới cùng, mặc dầu được thưởng nhưng sẽ bị tước mất, nói lên ý “tụng” bất khả cực, “lộc” bất khả tranh.

7. Canh Ngọ - Trạch Phong Đại quá, hào 4 (Bính Canh - Trạch Phong – Phong Trạch)
- “Cửu Tứ, đống long, cát ; hữu tha, lận.”
- “Chín Bốn, cột vươn thẳng như trước, tốt lành ; nếu ứng với dưới, tất sinh thẹn tiếc”.
- Tượng “Đống long chi cát, bất náo hồ hạ dã” - Cột vươn thẳng như trước, tốt lành, nói lên Chín Bốn không thể cho cột lại ỏe xuống nữa. Chín Bốn không thích hợp để ứng với hào cần ứng, lấy chất cứng mềm điều hòa nhau, để ứng với hào Đầu, hướng xuống dưới thì quá mềm, tất khiến cho “cột vươn thẳng” lại trở lại “cong”. Chín Bốn chỉ cần tự giảm chất dương cứng, không ứng với hào Đầu nữa, thì sẽ được “cát”.

8. Tân Mùi – Sơn Lôi Di, hào 4
- “Lục Tứ, điên di, cát ; hổ thị đam đam, kỳ dục trục trục, vô cữu.”
- “Sáu Bốn, đảo điên mà cầu dưới nuôi dưỡng (rồi lại dùng sự nuôi dưỡng đó nuôi lại mọi người), tốt lành ; như mắt hổ nhìn đăm đăm, gấp gáp cầu xin tiếp liền không dứt, tất không có cữu hại”.
- Tượng “Điên di chi cát, thượng thi quang dã” - Đảo điên mà cầu dưới nuôi dưỡng, nói lên Sáu Bốn ở ngôi trên, mà có thể tỏa rọi ánh sáng của đức đẹp xuống dưới. Chí của Sáu Bốn là ở đạo, nên do dưỡng chính, lợi vật, cho nên cát. Sáu Bốn có nhã ý, lấy sự đó cho dân, dùng sự đó cho dân, vì vậy mà “kỳ dục trục trục” vẫn có thể “vô cữu”. Thời “dưỡng chính”, cầu xin mà có đạo chính thì tất vô hại.

9. Nhâm Thân - Hỏa Địa Tấn, hào 5 (9 ~ 21)
- “Lục Ngũ, hối vong, thất đắc vật tuất ; vãng cát, vô bất lợi.”
- “Sáu Năm, hối hận mất hết, không phải lo nghĩ gì về sự được hay mất ; tiến lên tất được tốt lành, không gì không lợi”.
- Tượng “Thất đắc vật tuất, vãng hữu khánh dã” - Giải quyết công việc không phải lo lắng được mất, mà là trách nhiệm của mọi người, nói lên Sáu Năm đi lên tất có phúc khánh. Lấy chất âm ở ngôi dương, không đáng ngôi, có “hối hận”, nhưng ở nơi tôn quý, bẩm thụ đức Ly sáng, ủy nhiệm được người, kẻ dưới thuận theo, đã dùng được đạo này thì đi lên đều tốt.
“Thích văn” dẫn Mạnh Hỷ, Mã Dung, Trịnh Huyền, Ngu Phiên, Vương Túc nói “thất” vốn được viết là “thỉ” (mũi tên), nay khảo Bạch Thư Chu Dịch cũng viết là “thỉ” lập thành một thuyết: “thỉ đắc vật tuất” chỉ Sáu Năm “được mũi tên để dùng, cho nên không phải lo nghĩ”. Như Chín Bốn quẻ Phệ hạp “đắc kim thỉ”.

10. Quý Dậu - Thủy Thiên Nhu, hào 6 (10 ~ 22)
- “Thượng Lục, nhập vu huyệt, hữu bất tốc chi khách tam nhân lai ; kính chi, chung cát.”
- “Sáu Trên”, sa vào hang sâu, có ba người khách không mời mà đến ; biết kính trọng họ thì cuối cùng sẽ được tốt lành”.
- Tượng “Bất tốc chi khách lai, kính chi chung cát, tuy bất đương vị, vị đại thất dã” – Khách không mời mà đến, biết kính trọng họ thì cuối cùng sẽ được tốt lành ; nói lên Sáu Trên mặc dầu ngôi vị không thỏa đáng, nhưng chưa đến nỗi bị tổn thất lớn. Là âm ở ngôi trên, là “đương vị”, thế mà lại nói rằng “bất đương vị”, thật không hiểu nổi (Chu Hy - Bản nghĩa). Vương Bật “hào Trên là ngôi “hư”, ở nơi không ngôi là không đáng ngôi”.

11. Giáp Tuất - Hỏa Địa Tấn, hào 6 (11 ~ 59)
- “Thượng Cửu, tấn kỳ giác, duy dụng phạt ấp, lệ cát, vô cữu ; trinh lận.”
- “Chín Trên, tiến thịnh đến cùng cực, giống như sừng thú ở chỗ cao, nên chinh phạt ấp quốc để lập công, tuy có nguy hiểm, nhưng được tốt lành, mà không đến nỗi bị cữu hại ; phải giữ vững chính bền, phòng thẹn tiếc”.
- Tượng “Duy dụng phạt ấp, đạo vị quang dã” – Nên chinh phạt ấp quốc để lập công ; nói lên “tiến thịnh” của Chín Trên chưa từng sáng lớn.
“Tấn” cực tắc phản, cũng giống như “minh xuất địa thượng” (ánh sáng hiện trên mặt đất), thịnh cực thì suy. Chín Trên tiến thịnh tới “giác”, dựa vào sự “phạt ấp” để tránh cữu hại, có thể lấy đức của sự sáng sủa đương lâm vào cuộc suy vi, “ánh sáng sẽ tắt đi”. Cứng quá mức, khó tránh tới “lận”, vì dùng “vũ lực”

12. At Hợi - Thủy Thiên Nhu, hào 5 (12 ~ 60)
- “Cửu Ngũ, nhu vu tửu thực, trinh cát.”
- “Chín Năm, chờ đợi ở nơi riệu ngon, nhắm tốt, giữ vững chính bền thì được tốt lành”.
- Tượng “Tửu thực trinh cát, dĩ trung chính dã” - Chờ đợi nơi riệu ngon, nói lên Chín Năm ở ngôi giữ được chính. Nghĩa chữ “nhu” so với việc vương đạo lấy sự lâu dài hoàn thành việc hóa dục, thì không bằng, nhưng nó cũng không vội gì với những thành công nông cạn, thiển cận. Chín Năm cứng khỏa trung chính, làm chủ quẻ, ở ngôi cao có thể hết mình với đạo “nhu”, đạo “chờ đợi” hết sức hoàn mỹ.

13. Bính Tý – Phong Trạch Trung phu, hào 5
- “Cửu Ngũ, hữu phu luyến như, vô cữu.”
- “Chín Năm, lấy đức thành tín ràng buộc lòng thiên hạ, không có gì cữu hại”.
- Tượng “Hữu phu luyến như, vị chính đáng dã” – Nói Chín Năm ngôi vị trung chính, thích đáng. “Thoán truyện” nói chỉ có đức tin mới có thể cảm hóa được bang quốc, là chỉ hào này. Sáu hào không nói “phu”, chỉ có Chín Năm là nói, như vậy thì Chín Năm là chủ về “phu” vậy.

14. Đinh Sửu – Lôi Sơn Tiểu quá, hào 3
- “Cửu Tam, phất quá phòng chi, hoặc tòng tường chi, hung.”
- “Chín Ba, không chựu quá mức phòng bị, sẽ bị khẻ khác làm hại, có hung hiểm”.
- Tượng “Tòng hoặc tường chi, hung như hà dã” - Sẽ bị kẻ khác làm hại, nói lên sự hung hiểm của Chín Ba thật vô cùng nghiêm trọng. Sự hung của Chín Ba là ở chỗ coi nhẹ “việc nhỏ”, không chựu “quá phòng”. Tiểu quá là việc nhỏ nhiều hơn, có nghĩa là thận trọng trong việc nhỏ, Chín ba quá cứng vi phạm vào nghĩa này, là tượng không đề phòng trước mà có kẻ hại.

15. Mậu Dần - Địa Hỏa Minh di, hào 3
- “Cửu Tam, minh di vu nam thú, đắc kỳ đại thủ ; bất khả tật, trinh.”
- “Chín Ba, đi thuần thú ở phương Nam, tiến hành trinh phạt ở thời ánh sáng bị tổn thương, diệt trừ kẻ đầu sỏ hung ác ; lúc này không thể hành động gấp, nên giữ vững chính bền”.
- Tượng “Nam Thú chi chí, nãi đại đắc dã.” – Chí hướng đi thuần thú phương Năm, tiến hành chinh phạt của Chín Ba, nói lên tất có thu hoặch lớn. Chu Hy nói “Thành Thang nổi lên ở ngục Hạ Đài, Văn Vương dấy lên ở ngục Dũ Lý, chính hợp với nghĩa của hào này, mà việc nhỏ cũng như thế. Ý nghĩa tượng trưng của Chu Dịch rất rộng, vô luận là việc xưa, việc nay, việc lớn, việc nhỏ, đều có thể từ đó suy ra mà đều có sự “trưng nghiệm” cả, vị tất phải “câu” ở một hiện tượng, “nệ” vào sự mất việc.

16. Kỷ Mão – Thiên Thủy Tụng, hào 1
- “Sơ Lục, bất vĩnh sở sự ; tiểu hữu ngôn, chung cát.”
- “Sáu Đầu, không kéo dài việc kiện tụng, cố chựu chút ít điều tiếng về mình, cuối cùng sẽ được tốt lành”.
- Tượng “Bất vĩnh sở sự, tụng bất khả trường dã” – Không kéo dài kiện tụng, nói lên không thể để việc kiện kéo dài mãi không thôi ; Tuy “tiểu hữu ngôn”, kỳ biện minh dã” - Mặc dù chựu chút ít điều tiếng, nói lên Sáu Đầu nhờ có sự phân biện, mà cuối cùng mọi việc rõ ràng. Không nói “bất vĩnh tụng”, mà nói “bất vĩnh sở sự”, việc mới xảy ra, còn mong nó không trở thành việc phải thưa kiện.

17. Canh Thìn - Trạch Phong Đại quá, hào 3
- “Cửu Tam, đống náo, hung.”
- “Chín Ba, cột ỏe, hung.”
- Tượng “Đống náo chi hung, bất khả dĩ hữu phụ dã.” - Cột cong ỏe mà có hung hiểm, nói lên ý thế cứng của Chín Ba không thể thêm gì để phụ giúp. Chín Ba không thể ứng trên, nếu có ứng với Sáu Trên, thế cứng mà được giúp thì lại càng mạnh, cột càng cong hơn. Theo thời “đại quá có sự bất bình thường, chất cứng của nó chỉ có thể bớt, chứ không thể thêm. Ngu Phiên nói “giúp thì lại càng “cong” hơn, cho nên không nên giúp. Dương lấy Âm để giúp”.

18. Tân Tị - Sơn Lôi Di, hào 5
- “Lục Ngũ, phất kinh ; cư trinh cát, bất khả thiệp đại xuyên.”
- “Sáu Năm, (ví như bậc “quân vương” dựa vào sự: kẻ trên nuôi mình để nuôi thiên hạ), trái với lẽ thường ; ở yên giữ vững chính bền thì được tốt lành, không thể vượt qua sông cả sóng lớn.”
- Tượng “Cư trinh chi cát, thượng dĩ tòng thượng dã.” - Ở yên giữ vững chính bền, ý nói Chín Năm nên thuận theo và dựa vào người hiền dương cứng Chín Trên. Sáu Năm ở ngôi cao tôn quý, tất phải lấy đức đẹp đầy chứa để “nuôi thiên hạ” ; nhưng ngay thân mình mất chính không ứng, âm mềm không đặc, cũng không có cách nào tự nuôi, nên không thể không dựa vào lực lượng “người hiền ở trên”, nhưng được chuộng vì có lòng “nuôi thiên hạ”. Nên lời hào vẫn cho phép nó được “an trinh cát”. Tài đức yếu mỏng, không xứng với ngôi vị, đội dương mà theo dương bổ khuyết cho âm, thích hợp trong sự đi đường chính để ở, có thể ở yên lúc bình thời, nhưng không thể ở vào lúc gian nan biến cố.

19. Nhâm Ngọ - Hỏa Địa Tấn, hào 4 (19 ~ 31)
- “Cửu Tứ, tấn như thạch thử, trinh lệ.”
- “Chín Bốn, khi tiến thịnh giống như con chuột bay chẳng có được kỹ năng gì, giữ vững chính bền để phòng nguy hiểm.”
- Tượng “Thạch thử trinh lệ, vị bất đáng dã.” – Như chuột bay, chẳng có được kỹ năng gì, nói lên Chín Bốn ở vào ngôi vị không thích đáng, dùng cách bất trung bất chíh để chiếm ngôi cao, tham mà sợ người. Đạo Tấn chủ về nhu thuận, Hào Ba tuy không chính, nhưng vì thuận, cho nên chí nó được mọi người tin mà cùng đi lên ; Chín Bốn tuy đã tiến lên trên, do mất đạo nhu thuận mà như chuột bay ở bước cùng, không toại nguyện.

20. Quý Mùi - Thủy Thiên Nhu, hào 1 (20 ~ 32)
- “Sơ Cửu, nhu vu giao, lợi dụng hằng, vô cữu.”
- “Chín Đầu, đợi ở nơi giao ngoại, lợi về giữ được sự bền lòng bền gan, tất sẽ không cữu hại.”
- Tượng “Nhu vu giao, bất phạm nan hành dã.” - Đợi ở nơi giao ngoại, là nói Chín Đầu không xông thẳng vào nơi hiểm nạn ; “lợi dụng hằng vô cữu, vị thất thường dã.” - Lợi về giữ được sự bền lòng bền gan, nói lên Chín Đầu chưa từng sai mất đạo thường. Tâm chí tuy có chờ đợi, nên tự giữ sự yên tĩnh, điềm nhiên như sẽ ở vậy đến trọn đời, mới có thể dùng được đạo thường. Hào Đầu ở xa Khảm nhất, lợi vì “dụng hằng” nên “vô cữu”, là cứng ở ngôi cứng, sợ rằng có tượng nóng vội, tuy xa hiểm mà vẫn có lời răn.

21. Giáp Thân - Hỏa Địa Tấn, hào 5 (21 ~ 9)
- “Lục Ngũ, hối vong, thất đắc vật tuất ; vãng cát, vô bất lợi.”
- “Sáu Năm, hối hận mất hết, không phải lo nghĩ gì về sự được hay mất ; tiến lên tất được tốt lành, không gì không lợi”.
- Tượng “Thất đắc vật tuất, vãng hữu khánh dã” - Giải quyết công việc không phải lo lắng được mất, mà là trách nhiệm của mọi người, nói lên Sáu Năm đi lên tất có phúc khánh. Lấy chất âm ở ngôi dương, không đáng ngôi, có “hối hận”, nhưng ở nơi tôn quý, bẩm thụ đức Ly sáng, ủy nhiệm được người, kẻ dưới thuận theo, đã dùng được đạo này thì đi lên đều tốt.
“Thích văn” dẫn Mạnh Hỷ, Mã Dung, Trịnh Huyền, Ngu Phiên, Vương Túc nói “thất” vốn được viết là “thỉ” (mũi tên), nay khảo Bạch Thư Chu Dịch cũng viết là “thỉ” lập thành một thuyết: “thỉ đắc vật tuất” chỉ Sáu Năm “được mũi tên để dùng, cho nên không phải lo nghĩ”. Như Chín Bốn quẻ Phệ hạp “đắc kim thỉ”.

22. Ất Dậu - Thủy Thiên Nhu, hào 6 (22 ~ 10)
- “Thượng Lục, nhập vu huyệt, hữu bất tốc chi khách tam nhân lai ; kính chi, chung cát.”
- “Sáu Trên, sa vào hang sâu, có ba người khách không mời mà đến ; biết kính trọng họ thì cuối cùng sẽ được tốt lành.”
- Tượng “Bất tốc chi khách lai, kính chi chung cát, tuy bất đương vị, vị đại thất dã” – Khách không mời mà đến, nói lên Sáu Trên mặc dầu ngôi vị không thỏa đáng, nhưng chưa đến nỗi bị tổn thất lớn. Là âm ở ngôi trên, là “đương vị”, thế mà lại nói rằng “bất đương vị”, thật không hiểu nổi (Chu Hy - Bản nghĩa). Vương Bật “hào Trên là ngôi “hư”, ở nơi không ngôi là không đáng ngôi.”

23. Bính Tuất – Phong Trạch Trung phu, hào 4
- “Lục Tứ, nguyệt cơ vọng, mã thất vong, vô cữu.”
- “Sáu Bốn, trăng sáng gần tròn đầy, ngựa tốt bỏ bạn mà tiến lên, không dẫn đến cữu hại.”
- Tượng “Mã thất vong, tuyệt loại thượng dã.” - Ngựa tốt bỏ bạn, nói lên Sáu Bốn cắt đứt với bạn nó mà lên đội hào Chín Năm. Sáu Bốn có tượng “âm đức” đang thịnh mà chưa đầy. Thời Trung phu, đức bẩm sinh của nó là “âm thuận”, sự thành tín tất phải chuyên nhất. “Phu” không cho phép có hai (Chiết trung)

24. Đinh Hợi – Lôi Sơn Tiểu quá, hào 4
- “Cửu Tứ, vô cữu, phất quá ngộ chi ; vãng lệ tất giới, vật dụng, vĩnh trinh.”
- “Chín Bốn, không có lỗi hại gì, không quá cứng thì có thể gặp được âm mềm ; nhưng đi lên ứng hợp thì sẽ có nguy hiểm, tất phải tự răn, không thể thi thố tài dụng, mà phải giữ chính bền lâu dài.”
- Tượng “Phất quá ngộ chi, vị bất đáng dã.” – Không quá cứng thì có thể gặp được âm mềm, nói lên Chín Bốn chưa ở vị trí Dương cứng thích đáng. “Vãng lệ tất giới, chung bất khả trường dã” – Đi lên ứng hợp sẽ có nguy hiểm, nếu đi lên ứng hào âm thì cuối cùng sẽ không thể gặp hại được lâu dài. Thời “tiểu quá”, Chín Bốn mất chính, vậy phải yên giữ “vật dụng”, bảo vệ điều “vĩnh trinh”. Về mối quan hệ, Chín Bốn có thể “ngộ (gặp)” nó, mà không thể “vãng (đi lên)” ứng, yêu cầu Chín Bốn phải cẩn thận không được làm càn, nếu nhất quyết một mình đi lên, thì “vô cữu” sẽ biến thành “hung”.

25. Mậu Tý - Địa Hỏa Minh di, hào 6
- “Thượng Lục, bất minh hối ; sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.”
- “Sáu Trên, không tỏa sáng mà đem lại sự u tối ; mới đầu lên tận trời cao, cuối cùng rơi vào trong đất.”
- Tượng “Sơ đăng vu thiên, chiếu tứ quốc dã.” - Mới Đầu lên tận trời cao, có thể chiếu rọi ra các nước ở bốn phương ; “hậu nhập vu địa, thất tắc dã.” - Cuối cùng rơi vào trong đất, nói lên Sáu Trên vi phạm phép tắc. Lời hào nói “bất minh hối”, không sáng mà tối, đó là sự sáng của năm hào đều bị Sáu Trên làm thương tổn.

26. Kỷ Sửu – Thiên Thủy Tụng, hào 2
- “Cửu Nhị, bất khắc tụng, quy nhi bô, kỳ ấp nhân tam bách hộ, vô sảnh.”
- “Chín Hai, kiện tụng thì không lợi, lui về mà tránh đi, đó là một ấp nhỏ có ba trăm hộ, ở đấy thì không gặp họa hoạn.”
- Tượng “Bất khắc tụng, quy bô thoán dã ; Tự hạ tụng thượng, hoạn chí xuất dã.” – Kiện tụng thì không lợi, ý nói Chín Hai ở ngôi dưới mà kiên tụng bậc tôn thượng thì tai nạn đến. Nhưng nếu kịp thời tránh đi thì lại hết nạn ngay. Nghĩa của “tranh tụng” là ở chỗ thấy thôi được thì nên thôi đi, Chín Hai được “vô sảnh” là ở chỗ dương cứng có thể giữ được đạo trung.

27. Canh Dần - Trạch Phong Đại quá, hào 2
- “Sơ Lục, khô dương sinh đề, lão phu đắc kỳ nữ thê ; vô bất lợi”
- “Sáu Đầu, cây dương khô sinh mầm non cành mới, cụ già lọm khọm lấy được cô vợ trẻ ; không gì không lợi”
- Tượng “Lão phu nữ thê, quá dĩ tương dữ" - "Ông già lấy được cô vợ trẻ", nói lên ý hào Chín Hai dương cứng quá mức, nhưng có thể thân cận với hào Sáu Đầu âm mềm.

28. Tân Mão, Sơn Lôi Di, hào 6
- “Thượng Cửu, do di ; lệ cát, lợi thiệp đại xuyên.”
- “Chín Trên, thiên hạ nhờ nó mà được nuôi dưỡng ; biết nguy mà thận trọng thì được tốt lành, lợi về vượt qua sông cả sóng lớn.”
- Tượng “Do di lệ cát, đại hữu khánh dã.” – Thiên hạ nhờ nó mà được nuôi dưỡng, đây là tượng Chín Trên có phúc khánh lớn. Ngôi cùng cực, dương cứng đầy thịnh, có tượng bề tôi hiền với vua, vua dựa vào người này để nuôi thiên hạ. Nếu đảm trách nhiệm vụ nặng nề này, lại biết nguy mà thận trọng thì tốt, trừ nguy vượt hiểm tất được lợi.

29. Nhâm Thìn - Hỏa Địa Tấn, hào 3 (29 ~ 41)
- “Lục Tam, chúng doãn, hối vong.”
- “Sáu Ba, được mọi người tin cẩn thì hối hận sẽ mất hết.”
- Tượng “Chúng doãn chi chí, thượng hành dã.” – Chí hướng “được mọi người tin theo” của Sáu Ba là vì đi lên. Sáu Ba ngôi cao quẻ dưới, mất ngôi, có hối hận, nhưng cùng hai âm dưới có chí tiến lên, tất phải được mọi người tin theo mà cùng tiến. Trước tiên có đặt nền móng vững vàng thì mới có thể toại chí đi lên và được vua tin. Tin là tin ở kẻ dưới, đây lại tin ở kẻ trên, cho nên, không tin ở bạn thì cũng không được trên.

30. Quý Tị - Thủy Thiên Nhu, hào 2 (30 ~ 41)
- “Cửu Nhị, nhu vu sa, tiểu hữu ngôn ; chung cát.”
- “Chín Hai, chờ đợi ở bãi cát, hơi có điều tiếng, cuôi cùng tốt lành.”
- Tượng “Nhu vu sa, diễn tại trung dã ; tuy tiểu hữu ngôn, dĩ cung cát dã.” - Chờ đợi ở bãi cát, là tượng Chín Hai trong lòng ung dung không vội. Mặc dù có chút điều tiếng, là tượng kiên trì chờ đợi để đạt được tốt lành. Chín Hai đi dấn tới gần Khảm, cứng ở ngôi mềm, tính rộng rãi mà được ngôi giữa, là tượng gần hiểm mà vẫn không hại cho sự tốt của nó.

31. Giáp Ngọ - Hỏa Địa Tấn, hào 4 (31 ~ 19)
- “Cửu Tứ, tấn như thạch thử, trinh lệ.”
- “Chín Bốn, khi tiến thịnh giống như con chuột bay chẳng có được kỹ năng gì, giữ vững chính bền để phòng nguy hiểm.”
- Tượng “Thạch thử trinh lệ, vị bất đáng dã.” – Như chuột bay, chẳng có được kỹ năng gì, nói lên Chín Bốn ở vào ngôi vị không thích đáng, dùng cách bất trung bất chính để chiếm ngôi cao, tham mà sợ người. Đạo Tấn chủ về nhu thuận, Hào Ba tuy không chính, nhưng vì thuận, cho nên chí nó được mọi người tin mà cùng tiến; Chín Bốn tuy đã tiến lên trên, do mất đạo nhu thuận mà như chuột bay ở bước cùng, không toại nguyện.

32. Ất Mùi - Thủy Thiên Nhu, hào 1 (32 ~ 20)
- “Sơ Cửu, nhu vu giao, lợi dụng hằng, vô cữu.”
- “Chín Đầu, đợi ở nơi giao ngoại, lợi về giữ được sự bền lòng bền gan, tất sẽ không cữu hại.”
- Tượng “Nhu vu giao, bất phạm nan hành dã.” - Đợi ở nơi giao ngoại, là nói Chín Đầu không xông thẳng vào nơi hiểm nạn ; “lợi dụng hằng vô cữu, vị thất thường dã.” - Lợi về giữ được sự bền lòng bền gan, nói lên Chín Đầu chưa từng sai mất đạo thường. Tâm chí tuy có chờ đợi, nên tự giữ sự yên tĩnh, điềm nhiên như sẽ ở vậy đến trọn đời, mới có thể dùng được đạo thường. Hào Đầu ở xa Khảm nhất, lợi vì “dụng hằng” nên “vô cữu”, là cứng ở ngôi cứng, sợ rằng có tượng nóng vội, tuy xa hiểm mà vẫn có lời răn.

33. Bính Thân – Phong Trạch Trung phu, hào 3
- “Lục Tam, đắc địch, hoặc cổ hoặc bãi, hoặc khấp hoặc ca.”
- “Sáu Ba, (trong lòng không thành) phía trước gặp kẻ kình địch, hoặc đánh trống tiến công, hoặc mệt mỏi tháo lui, hoặc (sợ địch phản công mà) khóc lóc buồn bã, hoặc do (địch không lấn) mà hát vui.”
- Tượng “Hoặc cổ hoặc bãi, vị bất đáng dã.” – Là tượng Sáu Ba ngôi vị không thỏa đáng, không đáng ngôi, tự gây nên địch họa, cho nên có tượng “cổ” “bãi” “khấp” “ca”, nguyên nhân chính do lòng người không chân thành, ý đồ riêng tư nổi lên, luôn làm nhiều điểu không thích đáng, nói và làm vô thường, cuối cùng mệt sức vô ích. Lưu Mục nói “người ta chỉ vì lòng tin không đủ, cho nên nói, hành động không thường như vậy.”

34. Đinh Dậu – Lôi Sơn Tiểu quá, hào 5
- “Lục Ngũ, mật vân bất vũ, tự ngã tây giao ; công dặc thủ bỉ tại huyệt.”
- “Sáu Năm, mây dày kín đặc mà không mưa, nó kéo lên từ cõi Tây thành ấp của ta ; các bậc vương công ra sức bắn hạ các thú vật có hại ẩn trốn trong hang.”
- Tượng “Mật vân bất vũ, dĩ thượng dã.” – Mây dày kín đặc mà không mưa, là tượng Sáu Năm khí âm vượng thịnh đã ở cao bên trên.

35. Mậu Tuất - Địa Hỏa Minh di, hào 5
- “Lục Ngũ, Cơ Tử chi minh di, lợi trinh.”
- “Sáu Năm, như ông Cơ Tử thời Ân, lợi về sự giữ vững chính bền.”
- Tượng “Cơ Tử chi trinh, minh bất khả tức dã.” – Cơ Tử triều Ân giữ vững chính bền, có tượng ánh sáng trong lòng Sáu Năm không thể tắt. Phỏng theo tượng Cơ Tử triều Ân bị vua Trụ bắt tù, giả điên giấu sự sáng của mình giữ chí, ví với Sáu Năm rất gần với “ám quân”, thân mắc vào nội nạn, lợi về giữ chính không đổi lòng, không bị sự hôn ám làm cho mai một.

36. Kỷ Hợi – Thiên Thủy Tụng, hào 3
- “Lục Tam, sư hoặc dư thi, hung.”
- “Sáu Ba, quân chốc chốc phải trở xác về, có hung hiểm.”
- Tượng “Sư hoặc dư thi, đại vô công dã.” - Phải trở xác về, có tượng Sáu Ba không thể có chiến công. Đạo dùng binh quý ở chỗ biết mình, Sáu Ba thua trận, chính là do không tự lượng sức mình.

37. Canh Tý - Trạch Phong Đại quá, hào 1
- “Sơ Lục, tạ dụng bạch mao, vô cữu.”
- “Sáu Đầu, dùng cỏ tranh trắng lót (vật biếu người trên), tránh bị cữu hại.”
- Tượng “Tạ dụng bạch mao, nhu tại hạ dã.” - Lấy cỏ tranh trắng lót vật đi biếu, là tượng Sáu Đầu mềm thuận ở ngôi dưới, hành vi kính cẩn thận trọng. Thời “đại quá”, lấy chất mềm yếu thấp nhỏ mà ở ngôi dưới cùng, tự giữ kính cẩn, thận trọng “đội” dương, thì mới có thể lấy chất cứng của nó để giúp cho chất mềm của mình, tránh hại tới lợi.

38. Tân Sửu – Sơn Lôi Di, hào 1
- “Sơ Cửu, xả nhĩ linh qui, quan ngã đóa di, hung.”
- “Chín Đầu, người bỏ phần tốt đẹp như rùa thiêng của mình mà nhìn ta tới trễ mép cầu ăn, có hung hiểm.”
- Tượng “Quan ngã đóa di, diệc bất túc quý dã.” – Nhìn ta tới trễ mép cầu ăn, là tượng hành vi cầu ăn, cầu nuôi của Chín Đầu không đáng được tôn trọng. Thể trên quẻ Di đều cát, thể dưới đều hung, trên ngưng dưới động. Trên mà ngưng là sự nuôi người, dưới mà động là cầu người nuôi. Động mà cầu người nuôi, tất lụy về sự nuôi thể xác mình, nên Sáu Đầu không tránh khỏi sự động lòng dục của nó, lấy cái thực của dương cứng để cầu sự nuôi dưỡng ở âm hư, nuôi thân mà không được.

39. Nhâm Dần - Hỏa Địa Tấn, hào 2 (39 ~ 51)
- “Lục Nhị, tấn như sầu như, trinh cát ; thụ tư giới phúc, vu kỳ vương mẫu.”
- “Sáu Hai, tiến lên mà rầu rĩ, giữ vững chính bền thì được tốt lành ; sẽ được nhờ phúc lớn của bà nội trôn quý.”
- Tượng “Thụ tư giới phúc, dĩ trung chính dã.” - Sẽ được nhờ phúc lớn, là tượng Sáu Hai ở ngôi giữa giữ chính. “Vương mẫu” ví với “bậc chí tôn của loài âm”, chỉ Sáu Năm ; quẻ Khôn dưới là tượng mẹ, “phục càn” là vương. “Phục Càn” là chỉ quẻ Ly trên, vì hào 5 quẻ Ly trên, vốn là hào dương giữa quẻ Càn, mà biến thành hào âm, ở giữa quẻ ngoài Ly của quẻ Tấn.

40. Quý Mão - Thủy Thiên Nhu, hào 3 (40 ~ 52)
- “Cửu Tam, nhu vu nê, trí khấu chí.”
- “Chín Ba, chờ đợi ở nơi bãi bùn, dắt giặc đến.”
- Tượng “Nhu vu nê, tai tại ngoại ; tự ngã trí khấu, kính thận bất bại dã.” - Chờ đợi ở nơi bãi bùn, là tượng tai họa với Chín Ba còn ở ngoài ; Tự mình dắt giặc đến, là tượng Chín Ba cần nghiêm cẩn, thận trọng thì mới không thất bại. Thể quẻ Nhu, “trong” Càn tính dương cứng, “ngoài” Khảm tính hiểm. Nên lời 3 hào “trong” đều đúng vào Khảm hiểm mà thủ tượng. Thời “nhu” là phải chờ đợi rồi mới tiến.

41. Giáp Thìn - Hỏa Địa Tấn, hào 2 (41 ~ 29)
- “Lục Tam, chúng doãn, hối vong.”
- “Sáu Ba, được mọi người tin cẩn thì hối hận sẽ mất hết.”
- Tượng “Chún doãn chi chí, thượng hành dã.” – Chí hướng “được mọi người tin theo” của Sáu Ba là vì đi lên. Sáu Ba ngôi cao quẻ dưới, mất ngôi, có hối hận, nhưng cùng với hai âm đều có chí tiến lên, tất phải được mọi người tin theo mà cùng tiến. Trước tiên có đặt nền móng vững vàng thì mới có thể toại chí đi lên và được vua tin. Tin là tin ở kẻ dưới, đây lại tin ở kẻ trên, cho nên, không tin ở bạn thì cũng không được trên.

42. Ất Tị - Thủy Thiên Nhu, hào 2 (42 ~ 30)
- “Cửu Nhị, nhu vu sa, tiểu hữu ngôn ; chung cát.”
- “Chín Hai, chờ đợi ở bãi cát, hơi có điều tiếng, cuôi cùng tốt lành.”
- Tượng “Nhu vu sa, diễn tại trung dã ; tuy tiểu hữu ngôn, dĩ cung cát dã.” - Chờ đợi ở bãi cát, là tượng Chín Hai trong lòng ung dung không vội. Mặc dù có chút điều tiếng, là tượng kiên trì chờ đợi để đạt được tốt lành. Chín Hai đi dấn tới gần Khảm, cứng ở ngôi mềm, tính rộng rãi mà được ngôi giữa, là tượng gần hiểm mà vẫn không hại cho sự tốt của nó.

43. Bính Ngọ - Phong Trạch Trung phu, hào 2
- “Cửu Nhị, minh hạc tại âm, kỳ tử họa chi ; ngã hữu hảo tước, ngô dữ nhĩ mị chi.”
- “Chín Hai, chim hạc trắng kêu dưới bóng dâm của núi, bạn nó họa theo từng tiếng ; ta có riệu ngon nguyện với ngươi cùng uống chung vui.”
- Tượng “Kỳ tử họa chi, trung tâm nguyện dã.” - Bạn hạc trắng họa theo từng tiếng, đây là tượng ý nguyện chân thành phát ra từ đáy lòng. Khổng Tử thích nghĩa “Người ở trong (nhà) mà nói ra lời hay thì người ngoài nghìn dặm cũng ứng theo, huống chi là người ở gần ?. Còn ở trong (nhà) mà nói ra lời không hay, thì người ngoài ngàn dặm cũng phản đối, huống chi là người ở gần”, ý nêu rõ lòng chân thành thì tuy xa cũng được ứng theo.

44. Đinh Mùi – Lôi Sơn Tiểu quá, hào 6
- “Thượng Lục, phất ngộ quá chi ; phi điểu li chi, hung, thị vị tai sảnh.”
- “Sáu Trên, không thể gặp được dương cứng mà lại càng vượt quá dương cứng ; chính là giôpngs như con chim bay (bay không ngừng) bị tên bắn hạ giết, có hung hiểm, như vậy gọi là tai ương họa hoạn.”
- Tượng “Phất ngộ quá chi, dĩ khang dã.” – Không thể gặp được dương cứng mà lại càng vượt quá dương cứng, là tượng Sáu Trên ở nơi cao cùng cực. Lúc này là lúc quá cực, không thể tự giữ mà cứ theo như tập quán thói quen, cho nên đến nỗi vậy. Hung là do mình làm, “tai vạ” là do từ ngoài tới.

45. Mậu Thân - Địa Hỏa Minh di, hào 4
- “Lục Tứ, nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình.”
- “Sáu Bốn, lui về bên trái bụng, hiểu rõ tình trạng bên trong của thời ánh sáng bị tổn thương, do đó cương quyết bỏ nhà ra đi.”
- Tượng “Nhập vu tả phúc, hoạch tâm ý dã.” – Lui về bên trái bụng, là tượng nói có thể hiểu sâu tình trạng bên trong của thời ánh sáng bị tổn thương. Phàm nói về bên phải là tiện dụng cho mọi việc, theo bên trái mà không theo bên phải là nhún thuận, không phản nghịch. Thể quẻ Minh di, dưới sáng trên tối. Bà hào dưới là sáng ở ngoài tối, nên phải tùy theo sự xa gần cao thấp mà xử cho khác nhau. Sáu Bốn là bậc mềm chính, ở chỗ tối mà còn nhạt, nên còn có thể đắc ý về sự đi xa ; hào Năm là hạng mềm giữa, ở chỗ tối mà đã là lúc bức bách, nên là tượng bên trong có nạn, phải chính chí mình để che bớt sự sáng đi ; Sáu Trên là lúc tối đã cùng cực, cho nên là kẻ tự hại sự sáng của mình, đến nỗi phải tối, mà lại còn hại đến sự sáng của người ta, có tượng “ám quân” vậy.

46. Kỷ Dậu – Thiên Thủy Tụng, hào 4
- “Cửu Tứ, bất khắc tụng ; phục tức mệnh, du, an trinh cát.”
- “Chín Bốn, đi kiện thì không có lợi ; nên hồi tâm quay về với chính đạo, nên đổi ý đi kiện đi, an thuận mà giữ chính bền thì được tốt lành.”
- Tượng “Phục tức mệnh, du, an trinh bất thất dã.” – Nên hồi tâm quay về với mệnh, là tượng Chín Bốn an thuận, giữ vững chính bền để không bị tổn thất. Đã đi kiện, Chín Bốn dương cứng tính mạnh, nhưng ở ngôi âm, lại là tượng có thể lui ; “du” chính là ý biến cứng thành mềm. Chín thì cứng, Bốn thì mềm. Người ta chỉ vì không muốn yến với mệnh, mà lấy sức mạnh của mình để đi kiện, mới đầu thì kiện cuối cùng thì lui, không đi kiện nữa mà dựa vào mệnh, đó là tượng yên với sự chính bền.

47. Canh Tuất - Trạch Phong Đại quá, hào 6
- “Thượng Lục, quá thiệp diệt đỉnh ; hung, vô cữu.”
- “Sáu Trên, lội nước quá sâu đến nỗi ngập đầu ; có hung hiểm, nhưng không có lỗi gì.”
- Tượng “Quá thiệp chi hung, bất khả cữu dã.” - Lội nước quá sâu đến nỗi ngập đầu, đó là tượng Sáu Trên cứu đời mà mất mạng, không thể coi là có lỗi. Sáu Trên giống như đoạn cuối của cột, quá yếu không chựu được sức nặng đè lên mà ỏe xuống, đã cố hết mức rồi mà vẫn không thể chựu nổi sức nặng, mặc nhiên nhận lấy sự tổn thất về bản thân mình, để giữ cho được chủ thể, nhà lớn dựa vào đó mà không bị lún. Thời không có thể làm, họa không có thể tránh, cam lòng chựu đựng điều hung.

48. Tân Hợi – Sơn Lôi Di, hào 2
- “Lục Nhị, điên di ; phất kinh, vu khâu di, chinh hung.”
- “Sáu Hai, đã đảo điên mà xin kẻ dưới nuôi dưỡng mình, lại trái với lẽ thường, cầu sự nuôi dưỡng ở người tôn quý trên gò cao, tiến lên tất có hung hiểm.”
- Tượng “Lục Nhị chinh hung, hành thất loại dã.” – Sáu Hai tiến lên tất có hung hiểm, đó là tượng đi thì không gặp loài của mình. Âm Dương gặp nhau mới là đúng loại, âm dương không gặp nhau nên nói “thất loại”. Vốn ở thể trung chính, nhân vì không ứng với Sáu Năm, cho nên “điên” mà xin ăn với kẻ dưới trái lẽ thường, “phất” cầu nuôi ở trên thì đi mà gặp hung, là tượng mất lớn đạo nuôi dưỡng, cuối cùng sẽ đến hung.

49. Nhâm Tý - Hỏa Địa Tấn, hào 1 (49 ~ 1)
- “Sơ Lục, tấn như tồi như, trinh cát ; võng phu, dụ vô cữu.”
- “Sáu Đầu, sự tiến thịnh khởi đầu đã bị ghìm lui chắn lại, giữ chính thì được tốt lành ; hãy tạm ung dung đợi thời thì không gặp cữu hại”.
- Tượng “Tấn như tồi như, độc hành chính dã” - Khởi đầu đã bị ghìm lui chắn lại, nói lên Sáu Đầu nên riêng tự đi theo chính đạo ; “Dụ vô cữu, vị thụ mệnh” - Tạm đợi thời thì không cữu hại, nói lên Sáu Đầu trước mắt còn chưa được chựu mệnh. Sáu Đầu nhu tiến là bậc quân tử, tiến lui theo lễ nghi. Người thường không được (lòng) tin, thì có người vội tiến để cầu việc làm, có người vội lui thì oán hận người trên không biết tới mình.

50. Quý Sửu - Thủy Thiên Nhu, hào 4 (50 ~ 2)
- “Lục Tứ, nhu vu huyết, xuất tự huyêt.”
- “Sáu Bốn, chờ đợi trong vũng máu, mà thoát khỏi được từ nơi hang sâu”.
- Tượng “Nhu vu huyết, thuận dĩ chính dã” - Chờ đợi trong vũng máu, ý nói Sáu Bốn bình tĩnh để chờ, nghe ngóng thời thế. Sáu Bốn ở ngôi dưới Khảm hãm, vào nơi hiểm mà bị hại, mềm mà được chính, đành chờ đợi mà lui về nghe ngóng, cho nên thoát khỏi nơi hãm hiểm.

51. Giáp Dần - Hỏa Địa Tấn, hào 1 (39 ~ 51)
- “Lục Nhị, tấn như sầu như, trinh cát ; thụ tư giới phúc, vu kỳ vương mẫu.”
- “Sáu Hai, tiến lên mà rầu rĩ, giữ vững chính bền thì được tốt lành ; sẽ được nhờ phúc lớn của bà nội trôn quý.”
- Tượng “Thụ tư giới phúc, dĩ trung chính dã.” - Sẽ được nhờ phúc lớn, là tượng Sáu Hai ở ngôi giữa giữ chính. “Vương mẫu” ví với “bậc chí tôn của loài âm”, chỉ Sáu Năm ; quẻ Khôn dưới là tượng mẹ, “phục càn” là vương. “Phục Càn” là chỉ quẻ Ly trên, vì hào 5 quẻ Ly trên, vốn là hào dương giữa quẻ Càn, mà biến thành hào âm, ở giữa quẻ ngoài Ly của quẻ Tấn.

52. Ất Mão - Thủy Thiên Nhu, hào 3 (40 ~ 52)
- “Cửu Tam, nhu vu nê, trí khấu chí.”
- “Chín Ba, chờ đợi ở nơi bãi bùn, dắt giặc đến.”
- Tượng “Nhu vu nê, tai tại ngoại ; tự ngã trí khấu, kính thận bất bại dã.” - Chờ đợi ở nơi bãi bùn, là tượng tai họa với Chín Ba còn ở ngoài ; Tự mình dắt giặc đến, là tượng Chín Ba cần nghiêm cẩn, thận trọng thì mới không thất bại. Thể quẻ Nhu, “trong” Càn tính dương cứng, “ngoài” Khảm tính hiểm. Nên lời 3 hào “trong” đều đúng vào Khảm hiểm mà thủ tượng. Thời “nhu” là phải chờ đợi rồi mới tiến.

53. Bính Thìn – Phong Trạch Trung phu, hào 1
- “Sơ Cửu, ngu cát, hữu tha bất yến.”
- “Chín Đầu, yên giữ (lòng thành tín) thì được tốt lành, có lòng cầu mong khác thì không yên.”
- Tượng “Sơ Cửu ngu cát, chí vị biến dã.” – Chín Đầu yên giữ, là tượng tâm chí “không muốn cầu kẻ khác” chưa từng thay đổi. Chín Đầu ở ngôi “vật dụng” (chớ dùng), có thể cẩn thận giữ lòng thành tín mà không cầu ở nơi khác.

54. Đinh Tị - Lôi Sơn Tiểu quá, hào 1
- “Sơ Lục, phi điểu dĩ hung.”
- “Sáu Đầu, chim bay nghịch thế hướng lên trên sẽ có hung hiểm.”
- Tượng “Phi điểu dĩ hung, bất khả như hà dã.” – Bay nghịch thế hướng lên trên, đây là tượng Sáu Đầu tự chuốc lấy hung cữu, khó bề giải cứu. Phía trước là Sáu Hai ngăn trở, ngôi vị không trung chính, lại không yên với đạo dưới mà muốn vượt để ứng trên.

55. Mậu Ngọ - Địa Hỏa Minh di, hào 3
- “Cửu Tam, minh di vu Nam thú, đắc kỳ đại thủ ; bất khả tật, trinh.”
- “Chín Ba, đi tuần thú ở phương Nam, tiến hành chinh phạt ở thời ánh sáng bị tổn thương, diệt trừ kẻ đầu sỏ hung ác ; lúc này không thể hành động gấp, nên giữ vững chính bền.”
- Tượng “Nam thú chi chí, nãi đại đắc dã.” – Chí hướng đi tuần thú phương Nam tiến hành chinh phạt, là tượng Chín Ba tất sẽ có thu hoạch lớn. Chu Hy nói “Thành Thang nổi lên ở ngục Hạ Đài, Văn Vương dấy lên ở ngục Dũ Lý, chính hợp với nghĩa của hào này. Mà việc nhỏ cũng như thế.”. Ý nghĩa tượng trưng của Dịch, từ đó mà suy ra đều có sự trưng nghiệm vậy.

56. Kỷ Mùi – Thiên Thủy Tụng, hào 5
- “Cửu Ngũ, tụng, nguyên cát.”
- “Chín Năm, xử kiện hay đi kiện đều hết sức tốt lành.”
- Tượng “Tụng nguyên cát, dĩ trung chính dã.” Đây là tượng ở ngôi giữa giữ chính. Chín Năm là tượng “đại nhân quân chủ”, hợp với lời quẻ “lợi hiện đại nhân”, dẹp được mọi sự kiện cáo của chư hầu và muôn dân, khiến cho mọi người biết nhường nhau, mà yên được mọi tranh tụng.

57. Canh Thân - Trạch Phong Đại quá, hào 5
- “Cửu Ngũ, khô dương sinh hoa, lão phụ đắc kỳ sĩ phu ; vô cữu vô dự.”
- “Chín Năm, cây dương khô ra hoa mới, bà già lọm khọm lấy được người chồng khỏe mạnh, không bị cữu hại, cũng không được khen.”
- Tượng “Khô dương sinh hoa, hà khả cửu dã ; Lão phụ sĩ phu, diệc khả xú dã.” – Cây dương khô ra hoa mới, như vậy thì sức sống làm sao lâu dài được. Bà già lấy chồng, tình trạng như vậy thật đáng xấu hổ. Chín Năm lấy sự cực cứng giúp cực mềm, tuy không thể thành công tốt đẹp, đó là sự cố gắng hết mức. Kết cục “không lỗi không khen” là điều tất nhiên phải đến, không phải là sức người có thể đổi thay.

58. Tân Dậu – Sơn Lôi Di, hào 3
- “Lục Tam, phất di ; trinh hung, thập niên vật dụng, vô du lợi.”
- “Sáu Ba, trái với lẽ thường “nuôi dưỡng” ; giữ vững chính bền để phòng hung hiểm, mười năm dài lâu không được thi thố tài dụng, nếu thi thố tất sẽ không được lợi gì.”
- Tượng “Thập niên vật dụng, đạo đại bội dã.” - Mười năm không được thi thố tài dụng, là tượng Sáu Ba nghịch lớn với đạo “nuôi dưỡng”. Sáu Ba hành vi cầu nuôi rất bất chính, quá nhiều lòng dục, nên hành động mù quáng. Âm ở ngôi dương là không đúng thời, không giữa, mất chính, cậy có ứng mà cầu xin nịnh bợ Trên, xin mãi không thôi, mất nghĩa “dưỡng chính”.

59. Nhâm Tuất - Hỏa Địa Tấn, hào 6 (11 ~ 59)
- “Thượng Cửu, tấn kỳ giác, duy dụng phạt ấp, lệ cát, vô cữu ; trinh lận.”
- “Chín Trên, tiến thịnh đến cùng cực, giống như sừng thú ở chỗ cao, nên chinh phạt ấp quốc để lập công, tuy có nguy hiểm, nhưng được tốt lành, mà không đến nỗi bị cữu hại ; phải giữ vững chính bền, phòng thẹn tiếc”.
- Tượng “Duy dụng phạt ấp, đạo vị quang dã” – Nên chinh phạt ấp quốc để lập công ; nói lên “tiến thịnh” của Chín Trên chưa từng sáng lớn.
“Tấn” cực tắc phản, cũng giống như “minh xuất địa thượng” (ánh sáng hiện trên mặt đất), thịnh cực thì suy. Chín Trên tiến thịnh tới “giác”, dựa vào sự “phạt ấp” để tránh cữu hại, có thể lấy đức của sự sáng sủa đương lâm vào cuộc suy vi, “ánh sáng sẽ tắt đi”. Cứng quá mức, khó tránh tới “lận”, mất nhu thuận làm cho đường “tấn” có trở ngại.

60. Quý Hợi - Thủy Thiên Nhu, hào 5 (12 ~ 60)
- “Cửu Ngũ, nhu vu tửu thực, trinh cát.”
- “Chín Năm, chờ đợi ở nơi riệu ngon, nhắm tốt, giữ vững chính bền thì được tốt lành”.
- Tượng “Tửu thực trinh cát, dĩ trung chính dã” - Chờ đợi nơi riệu ngon, nói lên Chín Năm ở ngôi giữ được chính. Nghĩa chữ “nhu” so với việc vương đạo lấy sự lâu dài hoàn thành việc hóa dục, thì không bằng, nhưng nó cũng không vội gì với những thành công nông cạn, thiển cận. Chín Năm cứng khỏe trung chính, làm chủ quẻ, ở ngôi cao có thể hết mình với đạo “nhu”, đạo “chờ đợi” hết sức hoàn mỹ.

CHU KỲ 8


26
SƠN PHONG
CỔ
492
3
THIÊN HỎA ĐỒNG NHÂN
561
48
THỦY ĐỊA
TỶ
426

39
TRẠCH LÔI
TÙY
453


53
LÔI TRẠCH
QUY MUỘI
411
12
PHONG SƠN
TIỆM
534
62
ĐỊA THỦY
384
17
HỎA THIÊN
ĐẠI HỮU
519


1. Giáp Tý - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 1 (1 ~ 49)
- “Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu”.
- “Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp cữu hại”.
- Tượng “Đại hữu Sơ Cửu, vô giao hại dã” – Chín Đầu nếu không giao du đi lại với ai, thì cũng không mắc phải họa hại. Thân tuy ở cuộc “đại hữu”, nếu giữ cho sự ăn ở của mình được yên ổn, không lạm “giao” với vật, thì có thể vô hại. Thời “đại hữu” thì không thể quên sự gian nan. Không ghìm nén sự lo sợ thì lòng kiêu căng xa xỉ sinh ra, tất có “cữu”.

2. Ất Sửu - Thủy Địa Tỷ, hào 4 (2 ~ 50)
- “Lục Tứ, ngoại tỷ chi, trinh cát”.
- “Sáu Bốn, ở ngoài thân mật với đấng quân chủ, giữ vững chính bền thì được tốt lành”.
- Tượng “Ngoại tỷ ư hiền, dĩ tòng thượng dã” - Ở ngoài thân mật gần gũi với người Trên, nói lên Sáu Bốn thuận theo bậc tôn thượng. Sáu Bốn thân cận với hào Năm là “đội sát”.

3. Bính Dần – Phong Sơn Tiệm, hào 6
- “Thượng Cửu, hồng tiệm vu lục, kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát”.
- “Chín Trên, chim đại nhạn bay từ từ lên núi cao, lông vũ của nó có thể làm đồ trang sức đẹp tinh khiết, tốt lành”.
- Tượng “Kỳ vũ khả dụng vi nghi, cát, bất khả loạn dã” – Lông vũ của chim đại nhạn có thể làm đồ trang sức đẹp tinh khiết, nói lên chí hướng cao khiết của Chín Trên không hề tạp loạn. Hào Trên ở nơi không ngôi, cũng chỉ đủ là nghi biểu cho mọi người.

4. Đinh Mão – Lôi Trạch Quy muội, hào 2
- “Cửu Nhị, diểu năng thị, lợi u nhân chi trinh”.
- “Chín Hai, chột mà cố gắng nhìn được, lợi về giữ vững chính bền của bậc u tĩnh điềm đạm”.
- Tượng “Lợi u nhân chi trinh, vị biến thường dã” - Lợi về sự giữ vững chính bền của bậc u tĩnh điềm đạm, nói lên Chín Hai chưa từng thay đổi đạo thường hằng của sự nghiêm giữ tiết tháo. Bậc u nhân không có vua hiền, chính như hào Chín Hai không có chồng hiền đức.

5. Mậu Thìn - Địa Thủy Sư, hào 2
- “Cửu Nhị, tại sư, trung cát, vô cựu ; vương tam tính mệnh”.
- “Chín Hai, thống xuất quân đội, giữ đúng mức không thiên lệch sẽ được tốt lành, tất không bị cữu hại, nhà vua nhiều (ba) lần ban thưởng, giao cho trọng trách”.
- Tượng “Tại sư trung cát, thừa thiên sủng dã ; vương tam tích mệnh, hoài vạn bang dã” – "Thống xuất quân đội", nói lên Chín Hai được sự sủng ái của Thiên tử ; "Ban thưởng giao cho trọng trách", nói lên hào Hai có chí hướng bình định thiên hạ muôn nơi. (khát vọng). Sự thành công hay thất bại có ảnh hưởng lớn tới sự tín nhiệm của vua với tướng soái. Chín Hai sở dĩ thắng, không phải là công của mình, vì ứng với hào Năm, nên được ân sủng.

6. Kỷ Tị, - Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 6
- “Thượng Cửu, đồng nhân vu giao, vô hối”.
- “Chín Trên, hòa đồng với mọi người ở nơi giao ngoại xa xôi, chưa có được kẻ chí đồng cũng không hối hận”.
- Tượng “Đồng nhân vu giao, chí vị đắc dã” – Hòa đồng ở nơi xa xôi, nói lên chí hướng với người của Chín Trên chưa thể thực hiện được.

7. Canh Ngọ - Trạch Lôi Tùy, hào 4
- “Cửu Tứ, tùy hữu hoạch, trinh hung ; hữu phu tại đạo, dĩ minh, hà cữu !”.
- “Chín Bốn, được người theo, thu hoạch được nhiều, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm ; chỉ cần giữ lòng thành tín, hợp chính đạo, sáng suốt trong sự lập thân, như vậy thì làm sao có cữu hại được”.
- Tượng “Tùy hữu hoạch, kỳ nghĩa hung dã, ‘hữu phu tại đạo’, minh công dã” - Được người theo thu hoạch được nhiều, xét về ý nghĩa vị trí mà Chín Bốn ở vào, ta thấy có thể xẩy ra hung hiểm ; ‘Có lòng thành tín hợp với trung đạo’, đây là công hiệu có được do phẩm đức quang minh lỗi lạc của Chín Bốn có được.

8. Tân Mùi – Sơn Phong Cổ, hào 4
- “Lục Tứ, dụ phụ chi cổ, vãng kiến lận”.
- Sáu Bốn, dùng dằng không trị sự tệ loạn của cha, nếu cứ như vậy mãi thì tất sẽ hối tiếc”.
- Tượng “Dụ phụ chi cổ, vãng vị đắc dã” – Không trị sự tệ loạn của cha, ý nói Sáu Bốn nếu cứ như vậy mãi, thì khó mà có được đạo trị “cổ”. Trị “cổ” mà cứ lôi thôi dùng dằng, không dứt khoát, thì thực là đạo “dung ác dưỡng tệ”.

9. Nhâm Thân - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 5 (9 ~ 21)
- “Lục Ngũ, quyết phu giao như, uy như, cát”.
- “Sáu Năm, lấy đức thành tín để giao tiếp với người trên kẻ dưới, biết tỏ rõ uy nghiêm, tốt lành”.
- Tượng “Quyết phu giao như, tín dĩ phát chí dã ; ‘uy như chi cát’, dị nhi vô bị dã” - Lấy đức thành tín để giao tiếp với người trên kẻ dưới, nói lên Sáu Năm lấy đức thành tín của mình để khởi phát chí trung tín ở người khác ; ‘biết tỏ rõ uy nghiêm thì tốt’, nói lên Sáu Năm hành vi bình dị, không phải phòng ngừa (mà người ta tự kính sợ).

10. Quý Dậu - Thủy Địa Tỷ, hào 6 (10 ~ 22)
- “Thượng Lục, tỷ chi vô thủ, hung”.
- “Sáu Trên, thân mật gần gũi với người mà lại không tiên phong dẫn đầu, có hung hiểm”.
- Tượng “Tỷ chi vô thủ, vô sở chung dã” – Thân mật gần gũi với người, mà lại không phải là tiên phong dẫn đầu, nói lên Sáu Trên ở nơi tận cùng, nên không có nơi quy phụ.

11. Giáp Tuất - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 6 (11 ~ 59)
- “Thượng Cửu, tự nhiên hựu chi, cát vô bất lợi”.
- “Chín Trên, sự giúp đỡ từ trên trời rơi xuống, tốt lành, không có gì là không lợi”.
- Tượng “Đại hữu thượng cát, tự nhiên hựu dã” - Sự tốt lành của Chín Trên quẻ Đại hữu là được sự giúp đỡ từ trên trời rơi xuống.

12. Ất Hợi - Thủy địa Tỷ, hào 5 (12 ~ 60)
- “Cửu Ngũ, hiển tỷ ; vương dụng tam khu, thất tiền cầm, ấp nhân bất giới, cát”.
- “Chín Năm, thân mật gần gũi một cách vô tư ; khi đấng quân vương đi săn thì bổ vậy ba mặt, lưới chỉ giăng một mặt, mặc cho các cầm thú ở phía trước đi thoát, các kẻ thuộc hạ là người trong ấp cũng chẳng phòng vệ hộ, tốt lành”.
- Tượng “Hiển tỷ chi cát, vị chính trung dã ; xả nghịch thủ thuận, thất tiền cầm dã ; ấp nhân bất giới, thượng sử trung dã” – Thân mật gần gũi trong sáng vô tư, nói lên Chín Năm ở nơi trung chính, bỏ nghịch lấy thuận, chính là như “mặc cho các cầm thú ở phía trước đi thoát” ; ‘Các thuộc hạ cũng chẳng phòng vệ hộ’, nói lên do đức của người Trên, khiến cho các thuộc hạ cũng giữ được đạo trung.

13. Bính Tý – Phong Sơn Tiệm, hào 5
- “Cửu Ngũ, hồng tiệm vu lăng, phụ tam tuế bất dựng ; chung mạc chi thắng, cát”.
- “Chín Năm, chim đại nhạn bay từ từ lên gò cao, (giống như chồng đi xa), vợ ba năm không có mang ; (nhưng vợ chồng tất sẽ được xum họp) kẻ khác cuối cùng không thể xâm phạm ngăn trở mà thủ thắng, tốt lành”.
- Tượng “Chung mạc chi thắng, đắc sở nguyện dã” – (Vợ chồng tất xẽ xum họp) kẻ khác cuối cùng không thể xâm phạm, nói lên chín Năm được toại nguyện ứng hợp với Sáu Hai. Sáu Hai không khinh tiến, Chín Năm không coi nhẹ trách nhiệm, cùng đợi nhau lâu ngày, cùng tin nhau sâu sắc. Đây là tượng ở nơi chính giữ giữa.

14. Đinh Sửu – Lôi Trạch Quy muội, hào 3
- “Lục Tam, quy muội dĩ tu, phản quy dĩ đệ”.
- “Sáu Ba, người con gái sau khi lấy chồng mỏi cổ mong được thành vợ cả, nên quay về đợi thời, làm vợ lẽ”.
- Tượng “Quy muội dĩ tu, vị đáng dã” – Đi lấy chồng mong mình được thành vợ cả, nói lên hành vi của Sáu Ba không thỏa đáng.

15. Mậu Dần - Địa Thủy Sư, hào 1
- “Sơ Lục, sư xuất dĩ luật, phủ tang hung”.
- “Sáu Đầu, quân đội khi xuất quân thì phải dùng quân luật, hiệu lệnh để ước thúc, quân kỷ không khéo tất có hung hiểm”.
- Tượng “Sư xuất dĩ luật, thất luật hung dã” - Xuất quân phải dùng quân luật và hiệu lệnh nghiêm minh, nói lên Sáu Đầu nếu để mất quân kỷ tất có hung hiểm.

16. Kỷ Mão – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 1 (ý thông 25)
- “Sơ Cửu, đồng nhân vu môn, vô cữu”.
- “Chín Đầu, vừa ra khỏi cửa mà đã có thể hòa đồng ngay với người, tất vô cữu hại”.
- Tượng “Xuất môn đồng nhân, hựu thùy cữu dã” - Vừa ra khỏi cửa mà đã hòa đồng ngay với người, thì còn ai có thể làm nguy hại được !

17. Canh Thìn - Trạch Lôi Tùy, hào 3
- “Lục Tam, hệ trượng phu, thất tiểu tử ; tùy hữu cầu đắc, lợi cư trinh”.
- “Sáu Ba, quấn quýt với đấng trượng phu dương cứng, mất kẻ tiểu tử ở dưới, theo với người mà ta đã cầu tất được, lợi nếu như ở yên, giữ vững chính bền”.
- Tượng “Hệ trượng phu, chí xả hạ dã” - Quấn quýt với đấng trượng phu, nói lên ý chí Sáu Ba là kẻ bỏ người thấp dưới mà theo người Trên.

18. Tân Tị - Sơn Phong Cổ, hào 5
- “Lục Ngũ, cán phụ chi cổ, dụng dự”.
- “Sáu Năm, vì uốn nắn sự tệ loạn của cha mà được tiếng khen”.
- Tượng “Cán phụ dụng dự, thừa dĩ đức dã” - Uốn nắn tự tệ loạn của cha mà được tiếng khen, nói lên Sáu Năm lấy đức để kế thừa tiên nghiệp.

19. Nhâm Ngọ - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 4 (19 ~ 31)
- “Cửu Tứ, phỉ kỳ bàng, vô cữu”.
- “Chín Bốn, đừng để tỏ ra sự quá giầu có thì không cữu hại”.
- Tượng “Phỉ kỳ bàng, vô cữu, minh biện tích dã” - Giầu có không quá mức thì không cữu hại, nói lên Chín Bốn có đủ hiểu biết để phân biệt rõ ràng mọi sự, và cân nhắc về hoàn cảnh bản thân.

20. Quý Mùi - Thủy Địa Tỷ, hào 1 (20 ~ 32)
- “Sơ Lục, hữu phu tỷ chi, vô cữu ; hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát”.
- “Sáu Đầu, trong lòng thành tín, thân mật gần gũi với bậc quân chủ thì không gặp cữu hại ; sự thành tín của bậc quân chủ như riệu ngon đựng đầy hũ, cuối cùng khiến cho kẻ ở xa đều đến quy phục mà hưởng sự vỗ về ở tận các miền khác, tốt lành”.
- Tượng “Tỷ chi Sơ Lục, hữu tha cát dã” – Sáu Đầu quẻ Tỷ nói đến Chín Năm ứng rộng tới các nơi khác, mà được tốt lành. Sáu Đầu địa vị thấp kém, lại ở xa nơi hoang viễn, muốn thân cận với bậc chí tôn thật vô cùng khó khăn.

21. Giáp Thân - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 5 (21 ~ 9)
- “Lục Ngũ, quyết phu giao như, uy như, cát”.
- “Sáu Năm, lấy đức thành tín để giao tiếp với người trên kẻ dưới, biết tỏ rõ uy nghiêm, tốt lành”.
- Tượng “Quyết phu giao như, tín dĩ phát chí dã ; ‘uy như chi cát’, dị nhi vô bị dã” - Lấy đức thành tín để giao tiếp với người trên kẻ dưới, nói lên Sáu Năm lấy đức thành tín của mình để khởi phát chí trung tín ở người khác ; ‘biết tỏ rõ uy nghiêm thì tốt’, nói lên Sáu Năm hành vi bình dị, không phải phòng ngừa (mà người ta tự kính sợ).

22. Ất Dậu - Thủy Địa Tỷ, hào 6 (22 ~ 10)
- “Thượng Lục, tỷ chi vô thủ, hung”.
- “Sáu Trên, thân mật gần gũi với người mà lại không tiên phong dẫn đầu, có hung hiểm”.
- Tượng “Tỷ chi vô thủ, vô sở chung dã” – Thân mật gần gũi với người, mà lại không phải là tiên phong dẫn đầu, nói lên Sáu Trên ở cuối quẻ nên không có nơi quy phụ.

23. Bính Tuất – Phong Sơn Tiệm, hào 4
- “Lục Tứ, hồng tiệm vu mộc, hoặc đắc kỳ dốc, vô cữu”.
- “Sáu Bốn, chim đại nhạn bay từ từ lên cây cao, may mà tìm được cành bằng đậu thoải mái, không bị cữu hại”.
- Tượng “Hoặc đắc kỳ dốc, thuận dĩ tốn dã” – May mà tìm được nơi đậu, nói lên Sáu Bốn ôn thuận mà lại hòa tốn. Chim hồng nhạn vốn không đậu trên cây, bay đến cây lại được cành bằng, đậu tạm yên, nói rằng nó xứng hợp với sự đó.

24. Đinh Hợi – Lôi Trạch Quy muội, hào 4
- “Cửu Tứ, quy muội khiên kỳ, trì quy hữu thời”
- “Chín Bốn, người con gái đi lấy chồng bị lỡ thì con gái, dềnh dàng chưa lấy chồng, yên đợi thời cơ”.
- Tượng “Khiên kỳ chi chí, hữu đãi nhi hành dã” – Chín Bốn có tâm chí chựu để lỡ thì, yên đợi có dịp sau đi lấy chồng. Ở ta không phải ở người.

25. Mậu Tý - Địa Thủy Sư, hào 6
- “Thượng Lục, đại quân hữu mệnh, khai quốc thừa gia, tiểu nhân vật dụng”.
- “Sáu Trên, thiên tử ban phát mệnh lệnh, phong thưởng cho các công thần, là chư hầu, là đại phu ; còn kẻ tiểu nhân thì không thể trọng dụng”.
- Tượng “Đại quân hữu mệnh, dĩ chính công dã ; ‘tiểu nhân vật dụng’tất loạn bang dã” – Ban phát mệnh lệnh là để định công ban thưởng, không phân biệt quân tử tiểu nhân ; ‘tiểu nhân không thể trọng dụng’, không thể cùng họ bàn bạc các vấn đề kinh sách mưu lược, nếu dùng kẻ tiểu nhân thì sẽ nguy loạn cho đất nước.

26. Kỷ Sửu – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 2
- “Lục Nhị, đồng nhân vu tông, lận”.
- “Sáu Hai, hòa đồng với mọi người trong họ, có sự đáng tiếc”.
- Tượng “Đồng nhân vu tông, lận đạo dã” – Hòa đồng với người trong họ, dẫn tới sự đáng tiếc, tượng biểu thị về bè đảng.

27. Canh Dần - Trạch Lôi Tùy, hào 2
- “Lục Nhị, hệ tiểu tử, thất trượng phu”.
- “Sáu Hai, quấn quýt theo kẻ tiểu tử, mất đấng trượng phu dương cứng”.
- Tượng “Hệ tiểu tử, phất khiêm dữ dã” - Quấn quýt với kẻ tiểu tử, nói lên Sáu Hai không thể cùng một lúc thân hiếu với nhiều nơi. Vào thời “theo” mà do dự thiếu quyết đoán, tất được cái này mất cái kia, vì lợi ích nhỏ gây ra tổn thất lớn.

28. Tân Mão – Sơn Phong Cổ, hào 6
- “Thượng Cửu, bất sự vương hầu, cao thượng kỳ sự”
- “Chín Trên, không làm sự nghiệp của bậc vương hầu, đề cao hành vi ung dung tự tại của mình”.
- Tượng “Bất sự vương hầu, chí khả tắc dã” – Không làm sự nghiệp của bậc vương, nói lên ý chí cao khiết của Chín Trên đáng để noi theo.

29. Nhâm Thìn - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 3 (29 ~ 41)
- “Cửu Tam, công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân phất khắc”.
- “Chín Ba, bậc vương công dâng lễ cho thiên tử để tỏ lòng tôn kính, kẻ tiểu nhân không thể đảm đương được việc lớn như vậy”.
- Tượng “Công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân hại dã” - Bậc vương công hiến lễ, kẻ tiểu nhân làm nhiệm vụ lớn này, thì tất sẽ có họa hại. Thời “đại hữu” vật phú dân phong, các bậc vương công đại thần tất quy công, đó là cho đấng “quân thượng”: tỏ bày ý tôn kính, ca tụng thời thăng bình. Đối với kẻ dưới, thì đâu dám tự chuyên cái có của mình, đất giầu dân nhiều đều là cái có của bậc vương giả.

30. Quý Tị - Thủy Địa Tỷ, hào 2 (30 ~ 42)
- “Lục Nhị, tỷ chi tự nội, trinh cát”
- “Sáu Hai, từ bên trong thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền sẽ được tốt lành”.
- Tượng “Tỷ chi tự nội, bất tự thất dã” - Từ bên trong thân mật gần gũi với đấng quân vương, nói lên Sáu Hai chưa từng để mất chính đạo. "Tỷ chi tự nội", thân cận với bậc “tôn chủ” không khó, nhưng không giữ được chính, thì tất sẽ mất.

31. Giáp Ngọ - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 4 (31 ~ 19)
- “Cửu Tứ, phỉ kỳ bàng, vô cữu”.
- “Chín Bốn, đừng để tỏ ra sự quá giầu có thì không cữu hại”.
- Tượng “Phỉ kỳ bàng, vô cữu, minh biện tích dã” - Giầu có không quá mức thì không cữu hại, nói lên Chín Bốn có đủ hiểu biết để phân biệt rõ ràng mọi sự, và cân nhắc về hoàn cảnh bản thân. Chín Bốn có điều nguy là gần Vua.

32. Ất Mùi - Thủy Địa Tỷ, hào 1 (32 ~ 20)
- “Sơ Lục, hữu phu tỷ chi, vô cữu ; hữu phu doanh phẫu, chung lai hữu tha, cát”.
- “Sáu Đầu, trong lòng thành tín, thân mật gần gũi với bậc quân chủ thì không gặp cữu hại ; sự thành tín của bậc quân chủ như riệu ngon đựng đầy hũ, cuối cùng khiến cho kẻ ở xa đều đến quy phục mà hưởng sự vỗ về ở tận các miền khác, tốt lành”.
- Tượng “Tỷ chi Sơ Lục, hữu tha cát dã” – Sáu Đầu quẻ Tỷ nói đến Chín Năm ứng rộng tới các nơi khác, mà được tốt lành. Sáu Đầu địa vị thấp kém, lại ở xa nơi hoang viễn, muốn thân cận với bậc chí tôn thật vô cùng khó khăn. Sáu Đầu muốn gần gũi, thì tiền đề phải từ Chín Năm “hữu phu doanh phẫu”.

33. Bính Thân – Phong Sơn Tiệm, hào 3
- “Cửu Tam, hồng tiệm vu lục, phu chinh bất phục, phụ dựng bất dục, hung ; lợi ngư khấu”.
- “Chín Ba, chim đại nhạn bay từ từ đến ngọn núi nhỏ, giống như người chồng đi xa, một đi không trở về, người vợ không giữ được trinh chính, có mang đẻ con không nuôi, có hung hiểm ; (nếu có thể giữ chính, dụng cương, thì) lợi về sự chống trả giặc mạnh.
- Tượng “Phu chinh bất phục, ly quần xú dã” - Người chồng đi xa, một đi không trở về, nói lên Chín Ba xa cách kẻ quần loại, phối ngẫu. “thất kỳ đạo dã” – Người vợ không giữ được trinh chính, có mang đẻ con không nuôi, như vậy thì đã phạm vào đạo tương thân giữa vợ chồng. “lợi dụng ngự khấu, thuận tương bảo dã” - Nếu có thể giữ chính không tà, lợi về sự chống trả giặc mạnh, nói lên Chín Ba nên giữ chính để giữ được sự hòa thuận giữa vợ chồng.

34. Đinh Dậu – Lôi Trạch Quy muội, hào 5
- “Lục Ngũ, Đế Ất quy muội, kỳ quân chi duệ, bất như kỳ đệ chi duệ lương ; nguyệt cơ vọng, cát”.
- “Sáu Năm, Đế Ất cho em gái về nhà chồng, y phục của người vợ chính không đẹp bằng y phục của cô vợ lẽ ; (đức hạnh rất cao, ví như) trăng đến ngày sắp tròn mà chưa đầy, tốt lành.
- Tượng “Đế Ất quy muội, dĩ kỳ tại trung, dĩ quý hành dã” - Về nhà chồng, y phục vợ chính không đẹp bằng y phục vợ lẽ, nói lên Sáu Năm ngôi cao mà giữ giữa không lệch, tuy cao quý mà lại giữ đạo cần kiệm khiêm tốn. “Cát” của Sáu Năm, là về sự khiêm nhu mà ở giữa, ở ngôi trên mà xuống với người dưới.

35. Mậu Tuất - Địa Thủy Sư, hào 5
- “Lục Ngũ, điền hữu cầm, lợi chấp ngôn, vô cữu ; trưởng tử suất sư, đệ tử dư thi, trinh hung”.
- “Sáu Năm, trong ruộng có cầm thú, lợi về sự vậy bắt, tất không có gì cữu hại ; ủy nghiệm cho bậc trưởng giả cương chính, thì có thể thống suất quân đội, còn ủy nhiệm cho bọn người trẻ tuổi không có đức thì tất phải trở xác, đại bại mà về, giữ vững chính bền để phòng hung hiểm”.
- Tượng “Trưởng tử suất sư, dĩ trung hành dã” – Nói lên hành vi Sáu Năm là ở ngôi giữa không lệch. “đệ tử dư thi, sử bất đáng dã” – Đây là kết quả của việc sử dụng người không đích đáng.

36. Kỷ Hợi – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 3
- “Cửu Tam, phục nhung vu mãng, thăng kỳ cao lăng, tam tuế bất hưng”
- “Chín Ba, phục binh giữa nơi rừng rậm, thỉnh thoảng lên gò cao trông ngóng, qua ba năm cũng không dám dấy binh giao chiến”.
- Tượng “Phục nhung vu mãng, địch cương dã” - Phục binh giữa nơi rừng rậm, nói lên Chín Ba phía trước có địch cứng mạnh. “Tam tuế bất hưng, an hành dã” - Trải qua ba năm cũng không dám dấy binh, làm sao dám mạo muội tiến quân ?

37. Canh Tý - Trạch Lôi Tùy, hào 1
- “Sơ Cửu, quan hữu du, trinh cát ; xuất môn giao hữu công”.
- “Chín Đầu, có quan niệm tư tưởng giữ vững chính bền, thì sẽ được tốt lành ; ra cửa kết bạn với người, tất sẽ thành công”.
- Tượng “Quan hữu du, tòng chính cát dã” – Quan niệm tư tưởng thay đổi theo thời, nói lên Sáu Đầu theo chính đạo sẽ được tốt lành. “xuất môn giao hữu công, bất thất dã” – Ra cửa kết bạn với người tất sẽ thành công, nói lên hành vi Sáu Đầu không mắc sai lầm.

38. Tân Sửu – Sơn Phong Cổ, hào 1
- “Sơ Lục, cán phụ chi cổ, hữu tử khảo, vô cữu, lệ chung cát”.
- “Sáu Đầu, uốn nắn sự tệ loạn của cha, người con có thể nối được nghiệp tổ tiên, tất không có cữu hại, tuy có thể nguy hiểm nhưng cuối cùng tất được tốt lành”.
- Tượng “Cán phụ chi cổ, ý thừa khảo dã” - Uốn nắn sự tệ loạn của cha, nói lên ý nguyện của Sáu Đầu là ở chỗ: nối được nghiệp của tiền bối.

39. Nhâm Dần - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 2 (39 ~ 51)
- “Cửu Nhị, đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cữu”.
- “Chín Hai, dùng xe lớn chở của cải, đi chỗ nào cũng được, tất không cữu hại”.
- Tượng “Đại xa dĩ tái, tích trung bất bại dã” – Dùng xe lớn chở của cải, nói lên phải xếp hàng hóa vào chính giữa, không để lệch mới không bị nghiêng đổ, không dẫn đến nguy hại. Chín Hai thân mang nặng trách nhiệm, tương lai sáng sủa.

40. Quý Mão - Thủy Địa Tỷ, hào 3 (40 ~ 52)
- “Lục Tam, tỷ chi phỉ nhân”.
- “Sáu Ba, thân mật gần gũi với người có hành vi không đứng đắn”.
- Tượng “Tỷ chi phỉ nhân, bất diệc thượng hồ” – Như vậy, há không phải là việc đáng buồn sao ? Hễ là hàng xóm, là bạn học hay bạn đồng liêu, thì đều nên tự răn với sự buồn thương về “phỉ nhân”. Thấu triệt hàm nghĩa răn dạy của hào Sáu Ba này vậy.

41. Giáp Thìn - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 3 (41 ~ 29)
- “Cửu Tam, công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân phất khắc”.
- “Chín Ba, bậc vương công dâng lễ cho thiên tử để tỏ lòng tôn kính, kẻ tiểu nhân không thể đảm đương được việc lớn như vậy”.
- Tượng “Công dụng hưởng vu thiên tử, tiểu nhân hại dã” - Bậc vương công hiến lễ, kẻ tiểu nhân làm nhiệm vụ lớn này, thì tất sẽ có họa hại.

42. Ất Tị - Thủy Địa Tỷ, hào 2 (42 ~ 30)
- “Lục Nhị, tỷ chi tự nội, trinh cát”
- “Sáu Hai, từ bên trong thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền sẽ được tốt lành”.
- Tượng “Tỷ chi tự nội, bất tự thất dã” - Từ bên trong thân mật gần gũi với đấng quân vương, nói lên Sáu Hai chưa từng để mất chính đạo. "Tỷ chi tự nội", thân cận với bậc “tôn chủ” không khó, nhưng không giữ được chính, thì tất sẽ mất.

43. Bính Ngọ - Phong Sơn Tiệm, hào 2
- “Lục Nhị, hồng tiệm vu bàn, ẩm thực hãn hãn, cát”.
- “Sáu Hai, chim đại nhạn bay từ từ đến bên phiến đá lớn, ăn uống thảnh thơi vui vẻ, tốt lành”.
- Tượng “Ẩm thực hãn hãn, bất tố bão dã” – Ăn uống thảnh thơi vui vẻ, nói lên Sáu Hai tận tâm với đạo bề tôi, chứ không phải kẻ chỉ biết ăn uống phè phỡn.

44. Đinh Mùi – Lôi Trạch Quy muội, hào 6
- “Thượng Lục, nữ thừa khuông, vô thực ; sỹ khuê dương, vô huyết, vô du lợi”.
- “Sáu Trên, người con gái tay xách giỏ tre, không có gì ở trong ; người con trai cầm dao giết dê, không thấy máu: (vợ chồng làm lễ không thành), không có gì lợi”.
- Tượng “Thượng Lục vô thực, thừa hư khuông dã” – Sáu Trên giữa rỗng, không đặc, như tay xách chiếc giỏ tre rỗng không. Ngôi cùng cực, như em gái ở ngôi quá cao, không kẻ nào đi theo được, ý “vật cực tắc phản” để răn quy muội. Trước “nữ” sau “sỹ”, lỗi là ở vợ.

45. Mậu Thân - Địa Thủy Sư, hào 4
- “Lục Tứ, sư tả thứ, vô cữu”.
- “Sáu Bốn, quân lui về, tạm giữ thế thủ thì tránh được cữu hại”.
- Tượng “Tả thứ vô cữu, vị thất thường dã” - Tạm giữ thế thủ, nói lên Sáu Bốn dùng binh không mất phép thường.

46. Kỷ Dậu – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 4
- “Cửu Tứ, thừa kỳ dung, phất khắc công, cát”.
- “Chín Bốn, cưỡi lên tường thành rồi lại lui không dám tiến công, tốt lành”.
- Tượng “Thừa kỳ dung, nghĩa phất khắc dã” - Cưỡi lên tường thành, nói lên Chín Ba muốn hòa đồng với mọi người, thì không thể nghĩ tới chuyện tiến công được ; “kỳ cát, tắc khốn nhi phản tắc dã” – Có được sự tốt lành, là do ở thời khốn hãm không thông, nhưng quay ngược trở lại mà tuân theo phép tắc.

47. Canh Tuất - Trạch Lôi Tùy, hào 6
- “Thượng Lục, câu hệ chi, nãi tùng, duy chi ; vương dụng hưởng vu tây sơn”.
- “Sáu Trên, bắt giam, cưỡng bức phải theo, theo mà ràng chặt lấy ; đấng quân vương xuất quân thảo nghịch đặt tế lễ ở non tây”.
- Tượng “Câu hệ chi, thượng cùng dã” - Bắt giam, cưỡng bức phải theo, nói lên Sáu Trên ở ngôi trên cùng, không có nơi nào để theo, đạo “theo” đã cùng tận. “theo” và “không theo” đối lập nhau mà tồn tại.

48. Tân Hợi - Sơn Phong Cổ, hào 2
- “Cửu Nhị, cán mẫu chi cổ, bất khả trinh”.
- “Chín Hai, uốn nắn sự tệ loạn của mẹ, khi tình thế khó tiến hành thì không thể gượng làm được, mà phải giữ vững chính bền để đợi thời”.
- Tượng “Cán mẫu chi cổ, đắc trung đạo dã” - Uốn nắn điều tệ hại của me, nói lên Chín Hai nên nắm vững phương pháp cứng mềm hòa hợp.

49. Nhâm Tý - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 1 (49 ~ 1)
- “Sơ Cửu, vô giao hại, phỉ cữu ; gian tắc vô cữu”.
- “Chín Đầu, chưa đi lại giao du thì chưa mắc họa, tự nhiên thì không có cữu hại, nhưng tất phải nhớ là cần cẩn thận như lúc gặp gian nan, như vậy thì mới không gặp cữu hại”.
- Tượng “Đại hữu Sơ Cửu, vô giao hại dã” – Chín Đầu nếu không giao du đi lại với ai, thì cũng không mắc phải họa hại. Thân tuy ở cuộc “đại hữu”, nếu giữ cho sự ăn ở của mình được yên ổn, không lạm “giao” với vật, thì có thể vô hại. Thời “đại hữu” thì không thể quên sự gian nan. Không ghìm nén sự lo sợ thì lòng kiêu căng xa xỉ sinh ra, tất có “cữu”.

50. Quý Sửu - Thủy Địa Tỷ, hào 4 (50 ~ 2)
- “Lục Tứ, ngoại tỷ chi, trinh cát”.
- “Sáu Bốn, ở ngoài thân mật gần gũi với đấng quân chủ, giữ vững chính bền thì được sự tốt lành”.
- Tượng “Ngoại tỷ ư hiền, dĩ tòng thượng dã” - Ở ngoài thân mật gần gũi với vua hiền, nói lên ý Sáu Bốn thuận theo bậc quân thượng. Sáu Bốn thân cận với hào Năm là “đội sát”.

51. Giáp Dần – Hỏa Thiên Đại hữu, hào 2 (51 ~ 39)
- “Cửu Nhị, đại xa dĩ tái, hữu du vãng, vô cữu”.
- “Chín Hai, dùng xe lớn chở của cải, đi chỗ nào cũng được, tất không cữu hại”.
- Tượng “Đại xa dĩ tái, tích trung bất bại dã” – Dùng xe lớn chở của cải, nói lên phải xếp hàng hóa vào chính giữa, không để lệch mới không bị nghiêng đổ, không dẫn đến nguy hại.

52. Ất Mão - Thủy Địa Tỷ, hào 3 (52 ~ 40)
- “Lục Tam, tỷ chi phỉ nhân”.
- “Sáu Ba, thân mật gần gũi với người có hành vi không đứng đắn”.
- Tượng “Tỷ chi phỉ nhân, bất diệc thượng hồ” – Như vậy, há không phải là việc đáng buồn sao ? Hễ là hàng xóm, là bạn học hay bạn đồng liêu, thì đều nên tự răn với sự buồn thương về “phỉ nhân”. Thấu triệt hàm nghĩa răn dạy của hào Sáu Ba này vậy.

53. Bính Thìn – Phong Sơn Tiệm, hào 1
- “Sơ Lục, hồng tiệm vu can ; tiểu tử lệ, hữu ngôn, vô cữu”.
- “Sáu Đầu, chim nhạn bay dần đến bên bờ nước (không được an toàn) ; giống như trẻ nhỏ gặp lúc nguy hiểm, bị trách mắng, nhưng nếu có thể tiến dần không vội thì tránh được cữu hại”.
- Tượng “Tiểu tử chi lệ, nghĩa vô cữu dã” - Sự nguy hiểm mà trẻ nhỏ gặp phải, xét về ý nghĩa của việc Sáu Đầu tiệm tiến không vội thì không có hại gì. Chim hông nhạn là loài chim đi đến theo thời, theo mùa di chuyển, trước sau có trình tự. Hôn lễ dùng chim nhạn, lấy ý không tái ngộ, để rõ nghĩa “nữ quy”.

54. Đinh Tị - Lôi Trạch Quy muội, hào 1
- “Sơ Cửu, quy muội dĩ đệ, phả năng lý, chinh cát”.
- “Chín Đầu, người con gái về nhà chồng làm vợ lẽ, chân thọt mà cố gắng đi được, tiến lên thì được tốt lành”.
- Tượng “Quy muội dĩ đệ, dĩ hằng dã” – Con gái về nhà chồng làm vợ lẽ, đây là lẽ thường của việc hôn thú. “phả năng lý, cát tương thừa dã” – Chân thọt mà cố gắng đi được, nói lên sự tốt lành của Chín Đầu là ở chỗ giúp đỡ người vợ cả chăm sóc chồng. Chân tuy lệch nhưng có thể dẫm đất mà đi, không đến nỗi tàn phế.

55. Mậu Ngọ - Địa Thủy Sư, hào 3
- “Lục Tam, sư hoặc dư thi, hung”
- “Sáu Ba, quân chốc chốc phải chở xác về, có hung hiểm”.
- Tượng “Sư hoặc dư thi, đại vô công dã” – Quân chốc chốc phải chở xác về, nói lên Sáu Ba không thể có chiến công. Đạo dùng binh, quý ở chỗ biết mình biết người, Sáu Ba thua trận, chính là do không tự lượng sức mình.

56. Kỷ Mùi – Thiên Hỏa Đồng nhân, hào 5
- “Cửu Ngũ, đồng nhân, tiên hào đào, nhi hậu tiếu, đại sư khắc tương ngộ”.
- “Chín Năm, hòa đồng với người, trước thì khóc lóc kêu rên, sau thì vui mừng cười reo, đánh lớn rồi báo tiệp, chí đồng rồi tương ngộ hội hợp”.
- Tượng “Đồng nhân chi tiên, dĩ trung trực dã” – Hòa đồng, trước thì khóc lóc kêu rên, nói lên Chín Năm trung chính, chân thành thẳng thắn. “Đại sư tương ngộ, ngôn tương khắc dã” - Phải đến khi đại quân xuất chiến, mới tương ngộ hội hợp với kẻ chí đồng, nói lên Chín Năm cùng với kẻ địch giao chiến và đã chiến thắng.

57. Canh Thân - Trạch Lôi Tùy, hào 5
- “Cửu Ngũ, phu vu gia, cát”.
- “Chín Năm, tỏ rõ lòng thành tín với kẻ thiện, tốt lành”.
- Tượng “Phu ư gia cát, vị chính trung dã” - Vị trí Chín Năm chính trung không lệch. Ở ngôi tôn quý mà thật lòng theo điều thiện, thì kẻ thiện cũng tấp nập đi theo, thích hợp hết mức với thời “tùy” (Vương Bật).

58. Tân Dậu – Sơn Phong Cổ, hào 3
- “Cửu Tam, cán phụ chi cổ, tiểu hữu hối, vô đại cữu”.
- “Chín Ba, uốn nắn điều tệ loạn của cha, hơi có hối hận, nhưng không có cữu hại lớn”.
- Tượng “Cán phụ chi cổ, chung vô cữu dã” - Uốn nắn điều tệ loạn của cha, nói lên Chín Ba cuối cùng không thể có cữu hại. Người dưới cương trực không a dua, muốn giúp sửa điều lầm lỗi của người trên, phải không nghĩ tới “điều hối hận nhỏ”, mạo hiểm đưa ra điều can gián.

59. Nhâm Tuất - Hỏa Thiên Đại hữu, hào 6 (59 ~ 11)
- “Thượng Cửu, tự nhiên hựu chi, cát vô bất lợi”.
- “Chín Trên, sự giúp đỡ từ trên trời rơi xuống, tốt lành, không có gì là không lợi”.
- Tượng “Đại hữu thượng cát, tự nhiên hựu dã” - Sự tốt lành của Chín Trên quẻ Đại hữu là sự giúp đỡ từ trên trời rơi xuống.

60. Quý Hợi - Thủy Địa Tỷ, hào 5 (60 ~ 12)
- “Cửu Ngũ, hiển tỷ ; vương dụng tam khu, thất tiền cầm, ấp nhân bất giới, cát”.
- “Chín Năm, thân mật gần gũi một cách vô tư ; khi đấng quân vương đi săn thì bổ vậy ba mặt, lưới chỉ giăng một mặt, mặc cho các cầm thú ở phía trước đi thoát, các kẻ thuộc hạ là người trong ấp cũng chẳng phòng vệ hộ, tốt lành”.
- Tượng “Hiển tỷ chi cát, vị chính trung dã ; xả nghịch thủ thuận, thất tiền cầm dã ; ấp nhân bất giới, thượng sử trung dã” – Thân mật gần gũi trong sáng vô tư, nói lên Chín Năm ở nơi trung chính, bỏ nghịch lấy thuận, chính là như “mặc cho các cầm thú ở phía trước đi thoát” ; ‘Các thuộc hạ cũng chẳng phòng vệ hộ’, nói lên do đức của người trên, khiến cho các thuộc hạ cũng giữ được đạo trung.

Tháng Can Chi phối quẻ Dịch

NĂM GIÁP - ẤT – NHÂM - QUÝ

- Tháng Giêng: Địa Thiên Thái
- Tháng Hai: Lôi Thiên Đại tráng
- Tháng Ba: Trạch Thiên Quải
- Tháng Tư: Thuần Càn
- Tháng Năm: Thiên Phong Cấu
- Tháng Sáu: Thiên Sơn Độn
- Tháng Bẩy: Thiên Địa Bĩ
- Tháng Tám: Phong Địa Quan
- Tháng Chín: Sơn Địa Bác
- Tháng Mười: Thuần Khôn
- Tháng Một: Địa Lôi Phục
- Tháng Chạp: Địa Trạch Lâm

NĂM BÍNH - ĐINH

- Tháng Giêng: Trạch Sơn Hàm
- Tháng Hai: Thủy Sơn Kiển
- Tháng Ba: Địa Sơn Khiêm
- Tháng Tư: Thuần Cấn
- Tháng Năm: Sơn Hỏa Bí
- Tháng Sáu: Sơn Thiên Đại súc
- Tháng Bẩy: Sơn Trạch Tổn
- Tháng Tám: Hỏa Trạch Khuê
- Tháng Chín: Thiên Trạch Lý
- Tháng Mười: Thuần Đoài
- Tháng Một: Trạch Thủy Khốn
- Tháng Chạp: Trạch Địa Tụy

NĂM MẬU - KỶ

- Tháng Giêng: Hỏa Thủy Vị tế
- Tháng Hai: Sơn Thủy Mông
- Tháng Ba: Phong Thủy Hoán
- Tháng Tư: Thuần Khảm
- Tháng Năm: Thủy Trạch Tiết
- Tháng Sáu: Thủy Lôi Truân
- Tháng Bẩy: Thủy Hỏa Ký Tế
- Tháng Tám: Trạch Hỏa Cách
- Tháng Chín: Lôi Hỏa Phong
- Tháng Mười: Thuần Ly
- Tháng Một: Hỏa Sơn Lữ
- Tháng Chạp: Hỏa Phong Đỉnh

NĂM CANH – TÂN

- Tháng Giêng: Phong Lôi Ích
- Tháng Hai: Thiên Lôi Vô vọng
- Tháng Ba: Hỏa Lôi Phệ hạp
- Tháng Tư: Thuần Chấn
- Tháng Năm: Lôi Địa Dự
- Tháng Sáu: Lôi Thủy Giải
- Tháng Bảy: Lôi Phong Hằng
- Tháng Tám: Địa Phong Thăng
- Tháng Chín: Thủy Phong Tỉnh
- Tháng Mười: Thuần Tốn
- Tháng Một: Phong Thiên Tiểu súc
- Tháng Chạp: Phong Hỏa Gia nhân.

Hoài Nam cửu sư đạo huấn.

      Nguyên đề Lưu An thời Tây Hán soạn, Mã Quốc Hàn thời Thanh sưu tập, 1 quyển, bản của Ngọc hàm sơn phòng tập thư.

      Hán thư - nghệ văn chí chép: "Hoài Nam đạo huấn 2 thiên. Hoài Nam Vương An mời chín người am hiểu Dịch, gọi là cửu sư thuyết". Vậy sách này phải do chín vị Dịch sư được Lưu An triệu tập cùng soạn, chỉ thấy trong Văn tuyển chú của Lý Thiện nhắc đến tên sách, phù hợp với Hán thư - Nghệ văn chí.
      Kha Thiệu Văn nói "Vậy sách này, đầu đời Đường đã thất lạc, chỉ riêng Tùy thư - Kich tịch chí có để lại. Quốc Hàn căn cứ những lời dẫn trong Hoài Nam Hồng Liệt sưu tập làm một quyển".
      Gần đây, có người soạn Hoài Nam Tử - Chu dịch cổ nghĩa trưng dẫn rất kỹ, nên theo mà bổ xung. Hoài Nam là vào thời Thiếu Vũ, chỉ có Dương Hà dịch được lập Bác sĩ. Do vậy lời Hoài Nam thuật, phải là cái học của Điền Dương, mà ba nhà Thi, Mạnh, Lương Khâu đều là chi phái vậy.
      Thuyết ấy nghĩa lý sâu rộng, ngõ hầu sánh với Văn ngôn, Hệ từ, không phải những điều mà những kẻ học Dịch từ thời Đường Tống lại đây biết được vậy.

      Chậm để bắt đầu, nhanh để đứt đoạn. 
      Phàm ý sâu đạo lớn vốn không trái ngược nhau.

      Phàm là người học, tất phải sưu tầm nghiên cứu rộng rãi các bản cổ chú khác nhau, so sánh tìm ra cái hay cái dở trong mỗi bản, cốt để tìm ra cái đúng. Nếu như không khảo cứu những bản cổ chú, một mình làm sao có thể biết được đâu là lẽ phải?
      Tuy nhiên không phải bản cổ chú nào cũng đúng cả, do vậy phải biết chọn cái đúng mà theo, không phủ nhận khiên cưỡng, cũng không a dua phụ hoạ. Thế mới là người biết đọc sách, biết khảo cổ.


      Phàm, việc ngắt câu khi đọc Dịch là rất khó. Thoát ly khỏi Kinh để làm rõ việc ngắt câu, cũng là phương pháp có thể chấp nhận. Về nội dung của Lời quẻ Lời hào, sự thoát ý thoát nghĩa chưa hẳn đã đạt tới tiêu chuẩn bỏ thô lấy tinh, khử ngụy tồn chân.
      Ngoại, phát huy rộng rãi cái lý biến thông của Tượng Số, đạo ứng dụng của nó không cùng. 

      Luận về lẽ biến thông, tất phải xét sự tiến thoái của Tượng. Xem để quyết đoán những điều còn ngờ vực, tất phải là nghĩa cát hung từ Lời quẻ Lời hào. Không biết về Tượng, làm sao hiểu được lẽ biến thông ? Không biết về Từ thì làm sao quyết được những điều còn ngờ vực ?  

      Cổ nhân nói Dịch, thì nói Tượng Số, mà nghĩa lý nằm trong đó. Người đời sau nói nghĩa lý mà tượng số vì thế bị che lấp.      
      Chính thể thì hai hào Nhị Ngũ cư trung. Hỗ thể thì hai hào Tam Tứ cư trung, mà cái trung của hào Tam Tứ do biến mà thành.
      Còn như việc dự báo về điều hay điều dở, thì phải tuỳ vào "thời" và "vị" của Quẻ mà thay đổi, không thể chấp nhất mà bàn được.

      Duy có Đại tượng là thuần theo Lý để học Dịch. Ví như xem quẻ Bĩ là để biết kiệm đức tránh nạn, xem quẻ Bác để răn phải tốt với kẻ dưới để được yên nhà, xem quẻ Quy muội mà biết được tai hoạ sau này, xem quẻ Cấu là có thể ban bố mệnh lệnh khắp thiên hạ, ...

      Lấy lý "thuỷ chung hợp nhất" mà suy, thì có thể bao quát hiểu thấu được vạn vật. 
       Đây nói Càn - Thoán truyện có câu: "Đại minh chung thuỷ".

      Hệ từ - Hạ hay Lời hào Cửu Ngũ quẻ Quán có câu: "trùng môn kích thác", tới nay chưa thấy ai làm rõ được ý nghĩa uẩn áo của câu này.
     Lời quẻ Lời hào trong Dịch, từ ngữ cũng u áo, mang lý huyền diệu sâu kín, khi ta được dùng "Dịch tổng nghĩa" giảng dạy ở trong cung đình, thì mới thấy được giá trị sâu rộng căn bản của Dịch (Thư viện của TW Đảng CSTQ còn lưu giữ bản khắc thời Minh).

Thập Can Khắc Ứng - Kỳ Môn

奇门遁甲秘籍大全卷二
Kì môn tuần giáp bí tịch đại toàn
Quyển nhị 

        十干尅应诀 
Thập can khắc ứng quyết
     
      

六甲同六戊, 天盘戊加地盘戊, 谓之伏吟. 凡事闭塞静守为吉.
Lục giáp đồng lục mậu, thiên bàn mậu gia địa bàn mậu, vị chi phục ngâm. Phàm sự bế tắc tĩnh thủ vi cát. 

Lục Giáp và lục Mậu như nhau. Thiên bàn Mậu gia địa bàn Mậu, vị chi phục ngâm, mọi việc bế tắc, tĩnh thủ làm cát.

戊加戊 ( 甲值符 ) 谓之"伏吟" . 凡事闭塞, 静守为吉.
Mậu gia mậu (giáp trị phù) vị chi "Phục ngâm". Phàm sự bế tắc, tĩnh thủ vi cát. 

Mậu gia Mậu (Giáp gặp phù), vị chi "phục ngâm", mọi việc bế tắc, tĩnh thủ làm cát.
  
加乙为"青龙合灵", 门吉事吉, 门凶事凶.
Gia ất vi "Thanh long hợp linh", môn cát sự cát, môn hung sự hung.

Mậu gia Ất làm "Thanh long hợp linh", môn cát sự cát, môn hung sự hung

加丙为"青龙返首", 动作大吉, 若逢迫, 墓, 击, 刑, 吉事成凶.
Gia bính vi "Thanh long phản thủ", động tác đại cát, nhược phùng bách, mộ, kích, hình, cát sự thành hung.

加丁为"青龙耀明", 谒贵求名吉利, 若值墓, 迫, 招是招非.
Gia đinh vi "Thanh long diệu minh", yết quý cầu danh cát lợi, nhược trị mộ, bách, chiêu thị chiêu phi.

加己为"贵人入狱", 公私皆不利.
Gia kỷ vi "Quý nhân nhập ngục", công tư giai bất lợi.

加庚为"值符飞宫", 吉事不吉, 凶事更凶.
Gia canh vi "Trị phù phi cung", cát sự bất cát, hung sự canh hung.

加辛为"青龙折足", 吉门生助尚可谋为,
Gia tân vi "Thanh long chiết túc", cát môn sinh trợ thượng khả mưu vi.

若逢凶门, 主招灾, 失财, 有足疾.
Nhược phùng hung môn, chủ chiêu tai, thất tài, hữu túc tật.

加壬为"青龙入天牢", 凡阴阳皆不吉利.
Gia nhâm vi "Thanh long nhập thiên lao", phàm âm dương giai bất cát lợi.

加癸为"青龙华盖" 吉格者吉, 招福, 门凶多乖.
Gia quý vi "Thanh long hoa cái" cát cách giả cát, chiêu phúc, môn hung đa quai.

乙加戊 ( 甲值符 ) 为"利阴害阳", 门逢凶迫, 财破人伤.
Ất gia mậu (giáp trị phù) vi "Lợi âm hại dương", môn phùng hung bách, tài phá nhân thương.

加乙为"日奇伏吟", 不宜谒贵求名, 只可安分守身.
Gia ất vi "Nhật kỳ phục ngâm", bất nghi yết quý cầu danh, chích khả an phân thủ thân.

加丙为"奇仪顺遂", 吉星迁官进职, 凶星夫妻离别.
Gia bính vi "Kỳ nghi thuận toại", cát tinh thiên quan tiến chức, hung tinh phu thê ly biệt.

加丁为"奇仪相佐", 文书事吉, 百事皆可为.
Gia đinh vi "Kỳ nghi tương tá", văn thư sự cát, bách sự giai khả vi.

加己为"日奇入雾", 被土暗昧, 门凶必凶, 得三吉门为"地遁" .
Gia kỷ vi "Nhật kỳ nhập vụ", bị thổ ám muội, môn hung tất hung, đắc tam cát môn vi "Địa độn" .

加庚为"日奇被刑", 争讼财产, 夫妻怀私.
Gia canh vi "Nhật kỳ bị hình", tranh tụng tài sản, phu thê hoài tư.

加辛为"青龙逃走", 奴仆拐带, 六畜皆伤.
Gia tân vi "Thanh long đào tẩu", nô phó quải đái, lục súc giai thương.

加壬为"日奇入地", 尊卑悖乱, 官讼是非.
Gia nhâm vi "Nhật kỳ nhập địa", tôn ti bội loạn, quan tụng thị phi.

加癸为"华盖逢星", 官遁迹修道, 隐匿藏形, 躲灾避难为吉.
Gia quý vi "Hoa cái phùng tinh", quan độn tích tu đạo, ẩn nặc tàng hình, đóa tai tị nan vi cát.

丙加戊 ( 甲值符 ) 名"飞鸟跌穴", 谋为百事洞澈.
Bính gia mậu (giáp trị phù) danh "Phi điểu điệt huyệt", mưu vi bách sự động triệt.

加乙为"日月并行", 公谋私为皆吉.
Gia ất vi "Nhật nguyệt tịnh hành", công mưu tư vi giai cát.

加丙为"月奇孛师", 文书逼迫, 破耗遗失.
Gia bính vi "Nguyệt kỳ bột sư", văn thư bức bách, phá háo di thất.

加丁为"月奇朱雀", 贵人文书吉利, 常人平静, 得三吉门为"天遁" .
Gia đinh vi "Nguyệt kỳ chu tước", quý nhân văn thư cát lợi, thường nhân bình tĩnh, đắc tam cát môn vi"Thiên độn" .

加己为"太孛入刑", 囚人刑杖, 文书不行, 吉门得吉, 凶门转凶.
Gia kỷ vi "Thái bột nhập hình", tù nhân hình trượng, văn thư bất hành, cát môn đắc cát, hung môn chuyển hung.

加庚为"荧入太白", 门户破败, 盗贼耗失.
Gia canh vi "Huỳnh nhập thái bạch", môn hộ phá bại, đạo tặc háo thất.

加辛为"谋事就成", 病人不凶.
Gia tân vi "Mưu sự tựu thành", bệnh nhân bất hung.

加壬为"火入天罗", 为客不利, 是非颇多.
Gia nhâm vi "Hỏa nhập thiên la", vi khách bất lợi, thị phi pha đa.

加癸为"华盖孛师", 阴人害事, 灾祸频生.
Gia quý vi "Hoa cái bột sư", âm nhân hại sự, tai họa tần sinh.

丁加戊 ( 甲值符 ) 为"青龙转光", 官人升迁, 常人威昌.
Đinh gia mậu (giáp trị phù) vi "Thanh long chuyển quang", quan nhân thăng thiên, thường nhân uy xương.

加乙为"人遁" 吉格, 贵人加官进爵, 常人婚姻财喜.
Gia ất vi "Nhân độn" cát cách, quý nhân gia quan tiến tước, thường nhân hôn nhân tài hỉ.

加丙为"星随月转", 贵人越级高升, 常人乐里生悲.
Gia bính vi "Tinh tùy nguyệt chuyển", quý nhân việt cấp cao thăng, thường nhân nhạc lý sinh bi.

加丁为"奇入太阴", 文书即至, 喜事遂心.
Gia đinh vi "Kỳ nhập thái âm", văn thư tức chí, hỉ sự toại tâm.

加己为"火入勾陈", 奸私雠冤, 事因女人.
Gia kỷ vi "Hỏa nhập câu trần", gian tư thù oan, sự nhân nữ nhân.

加庚为"年月日时格", 文书阻隔, 行人必归.
Gia canh vi "Niên nguyệt nhật thì cách", văn thư trở cách, hành nhân tất quy.

加辛名曰"朱雀入狱", 罪人释囚, 官人失位.
Gia tân danh viết "Chu tước nhập ngục", tội nhân thích tù, quan nhân thất vị.

加壬名曰"五神互合", 贵人恩昭, 讼狱公平.
Gia nhâm danh viết "Ngũ thần hỗ hợp", quý nhân ân chiêu, tụng ngục công bình.

加癸名曰"朱雀投江", 文书口舌俱消, 音信沉溺.
Gia quý danh viết "Chu tước đầu giang", văn thư khẩu thiệt câu tiêu, âm tín trầm nịch.

己加戊 ( 甲值符 ) 为"犬遇青龙", 门吉谋望遂意, 上人见喜, 门凶枉劳心机
Kỷ gia mậu (giáp trị phù) vi "Khuyển ngộ thanh long", môn cát mưu vọng toại ý, thượng nhân kiến hỉ, môn hung uổng lao tâm ky.

加乙名为"墓神不明", 地户蓬星, 宜遁迹隐形为利逸.
Gia ất danh vi "Mộ thần bất minh", địa hộ bồng tinh, nghi độn tích ẩn hình vi lợi dật.

加丙名曰"火孛地户", 阳人冤枉相害, 阴人必致淫污.
Gia bính danh viết "Hỏa bột địa hộ", dương nhân oan uổng tương hại, âm nhân tất trí dâm ô.

加丁名曰"朱雀入墓", 文状词讼, 先曲后直.
Gia đinh danh viết "Chu tước nhập mộ", văn trạng từ tụng, tiên khúc hậu trực.

加己名为"地户逢鬼", 病者必死, 百事不遂.
Gia kỷ danh vi "Địa hộ phùng quỷ", bệnh giả tất tử, bách sự bất toại.

加庚名曰"刑格", 求名, 词讼先动者不利, 阴星有谋害之情.
Gia canh danh viết "Hình cách", cầu danh, từ tụng tiên động giả bất lợi, âm tinh hữu mưu hại chi tình.

加辛名曰"游魂入墓", 大人鬼魅, 小人家先为祟.
Gia tân danh viết "Du hồn nhập mộ", đại nhân quỷ mị, tiểu nhân gia tiên vi túy.

加壬名曰"地网高张", 狡童佚女, 奸情杀伤.
Gia nhâm danh viết "Địa võng cao trương", giảo đồng dật nữ, gian tình sát thương.

加癸名曰"地刑玄武", 男女疾病垂危, 词讼有囚狱之灾.
Gia quý danh viết "Địa hình huyền vũ", nam nữ tật bệnh thùy nguy, từ tụng hữu tù ngục chi tai.

庚加戊 ( 甲值符 ) 曰"太白天乙伏宫", 百事不可谋为凶.
Canh gia mậu (giáp trị phù) viết "Thái bạch thiên ất phục cung", bách sự bất khả mưu vi hung.

加乙为"太白蓬星", 退吉进凶.
Gia ất vi "Thái bạch bồng tinh", thối cát tiến hung.

加丙曰"太白入荧", 占贼必来, 为客进利, 为主破财.
Gia bính viết "Thái bạch nhập huỳnh", chiêm tặc tất lai, vi khách tiến lợi, vi chủ phá tài.

加丁曰"亭亭之格", 因私昵起官司, 门吉有救.
Gia đinh viết "Đình đình chi cách", nhân tư nật khởi quan ti, môn cát hữu cứu.

加己曰名为"刑格", 官司被重刑.
Gia kỷ viết danh vi "Hình cách", quan ti bị trọng hình.

加庚曰"太白同宫", 官灾横祸, 兄弟雷攻.
Gia canh viết "Thái bạch đồng cung", quan tai hoành họa, huynh đệ lôi công.

加辛曰"白虎干格", 远行车折马死.
Gia tân viết "Bạch hổ kiền cách", viễn hành xa chiết mã tử.

加壬曰远行失迷道路, 男女音信嗟呀.
Gia nhâm viết viễn hành thất mê đạo lộ, nam nữ âm tín ta nha.

加癸名为"大格", 行人至官司止, 生产母子俱伤, 大凶.
Gia quý danh vi "Đại cách", hành nhân chí quan ti chỉ, sinh sản mẫu tử câu thương, đại hung.

辛加戊 ( 甲值符 ) 曰"困龙被伤", 官司破败, 屈抑守分, 妄动祸殃.
Tân gia mậu (giáp trị phù) viết "Khốn long bị thương", quan ti phá bại, khuất ức thủ phân, vọng động họa ương.

加乙曰"白虎猖狂", 人亡家败, 远行多殃, 尊长不喜, 车船俱伤.
Gia ất viết "Bạch hổ xương cuồng", nhân vong gia bại, viễn hành đa ương, tôn trường bất hỉ, xa thuyền câu thương.

加丙曰"干合孛师", 荧惑出现, 占雨无, 占晴旱, 占事必因财致讼.
Gia bính viết "Kiền hợp bột sư", huỳnh hoặc xuất hiện, chiêm vũ vô, chiêm tình hạn, chiêm sự tất nhân tài trí tụng.

加丁曰"狱神得奇", 经商获倍利, 因人逢赦宥.
Gia đinh viết "Ngục thần đắc kỳ", kinh thương hoạch bội lợi, nhân nhân phùng xá hựu.

加己曰"入狱自刑", 奴仆背主, 讼诉难伸.
Gia kỷ viết "Nhập ngục tự hình", nô phó bối chủ, tụng tố nan thân.

加庚曰"白虎出力", 刀刃相接, 主客相残, 逊让退步,
Gia canh viết "Bạch hổ xuất lực", đao nhận tương tiếp, chủ khách tương tàn, tốn nhượng thối bộ,

稍可强进, 血溅衣衫.
Sảo khả cường tiến, huyết tiên y sam.

加辛为"伏吟天庭", 公废私就, 讼狱自罹罪名.
Gia tân vi "Phục ngâm thiên đình", công phế tư tựu, tụng ngục tự ly tội danh.

加壬曰"凶蛇入狱", 两男争女, 讼狱不息, 先动失理.
Gia nhâm viết "Hung xà nhập ngục", lưỡng nam tranh nữ, tụng ngục bất tức, tiên động thất lý.

加癸曰"天牢华盖", 日月失明, 误入天网, 动止乖张.
Gia quý viết "Thiên lao hoa cái", nhật nguyệt thất minh, ngộ nhập thiên võng, động chỉ quai trương.

壬加甲子戊 ( 甲值符 ) 名曰"小蛇化龙", 男人发达, 女产婴童.
Nhâm gia giáp tử mậu (giáp trị phù) danh viết "Tiểu xà hóa long", nam nhân phát đạt, nữ sản anh đồng.

加日奇六乙名曰格名"小蛇", 女子柔顺, 男人嗟呀, 占孕生子, 禄马光华
Gia nhật kỳ lục ất danh viết cách danh "Tiểu xà", nữ tử nhu thuận, nam nhân ta nha, chiêm dựng sinh tử, lộc mã quang hoa

加月奇六丙名曰"水蛇入火", 官灾刑禁络绎不绝.
Gia nguyệt kỳ lục bính danh viết "Thủy xà nhập hỏa", quan tai hình cấm lạc dịch bất tuyệt.

加星奇六丁名曰"干合蛇刑", 文书牵连, 贵人匆匆, 男凶女吉.
Gia tinh kỳ lục đinh danh viết "Kiền hợp xà hình", văn thư khiên liên, quý nhân thông thông, nam hung nữ cát.

加甲戌己名曰"凶蛇入狱", 大祸将至, 顺守斯吉, 词讼理曲.
Gia giáp tuất kỷ danh viết "Hung xà nhập ngục", đại họa tương chí, thuận thủ tư cát, từ tụng lý khúc.

加甲申庚名曰"太白擒蛇", 刑狱公平, 立剖邪正.
Gia giáp thân canh danh viết "Thái bạch cầm xà", hình ngục công bình, lập phẩu tà chính.

加甲午辛名曰"螣蛇相缠", 纵得吉门, 亦不能安, 若有谋望, 被人欺瞒.
Gia giáp ngọ tân danh viết "Đằng xà tương triền", túng đắc cát môn, diệc bất năng an, nhược hữu mưu vọng, bị nhân khi man.

加甲辰壬名曰"蛇入地罗", 外人缠绕, 内事索索, 门吉星凶, 庶免蹉跎.
Gia giáp thần nhâm danh viết "Xà nhập địa la", ngoại nhân triền nhiễu, nội sự tác tác, môn cát tinh hung, thứ miễn tha đà.

加甲寅癸名曰"幼女奸淫", 家有丑声, 门星俱吉, 反祸福隆.
Gia giáp dần quý danh viết "Ấu nữ gian dâm", gia hữu sửu thanh, môn tinh câu cát, phản họa phúc long.

癸加甲子戊 ( 甲值符 ) 为"天乙会合" 吉格, 财喜婚姻, 吉人赞助成合,
Quý gia giáp tử mậu (giáp trị phù) vi"Thiên ất hội hợp" cát cách, tài hỉ hôn nhân, cát nhân tán trợ thành hợp.

若门凶迫制, 反招官非.
Nhược môn hung bách chế, phản chiêu quan phi.

加日奇六乙名曰"华盖蓬星", 贵人禄位, 常人平安.
Gia nhật kỳ lục ất danh viết "Hoa cái bồng tinh", quý nhân lộc vị, thường nhân bình an.

加月奇六丙名曰"华盖孛师", 贵贱逢之, 上人见喜.
Gia nguyệt kỳ lục bính danh viết "Hoa cái bột sư", quý tiện phùng chi, thượng nhân kiến hỉ.

加星奇六丁名曰"螣蛇妖矫", 文书官司, 火焚莫逃.
Gia tinh kỳ lục đinh danh viết "Đằng xà yêu kiểu", văn thư quan ti, hỏa phần mạc đào.

加甲戌己名曰"华盖地户", 男女占之, 书信皆阻, 躲灾避难为吉.
Gia giáp tuất kỷ danh viết "Hoa cái địa hộ", nam nữ chiêm chi, thư tín giai trở, đóa tai tị nan vi cát.

加甲申庚曰"太白入网", 以暴争讼力平.
Gia giáp thân canh viết "Thái bạch nhập võng", dĩ bạo tranh tụng lực bình.

加甲午辛曰"网盖天牢", 占讼占病, 死罪莫逃.
Gia giáp ngọ tân viết "Võng cái thiên lao", chiêm tụng chiêm bệnh, tử tội mạc đào.

加甲辰壬曰"复见螣蛇", 嫁娶重婚, 后嫁无子, 不保年华.
Gia giáp thần nhâm viết "Phục kiến đằng xà", giá thú trọng hôn, hậu giá vô tử, bất bảo niên hoa.

加甲寅癸曰"天网四张", 行人失伴, 病讼皆伤.
Gia giáp dần quý viết "Thiên võng tứ trương", hành nhân thất bạn, bệnh tụng giai thương.

Dich Ngũ linh - Sưu tầm

Dịch Ngũ linh là quẻ kép gồm quái Hậu thiên và quái Tiên thiên hợp thành.

XÁC ĐỊNH QUÁI CHỦ THỜI - QUÁI HẬU THIÊN

Nguyên tắc: "Nguyệt thuận hạ nhật, nhật thuận hạ thời".

Xác định Nguyệt kiến của tháng lấy quẻ, rồi khởi ngày mùng 1 tại Nguyệt kiến đó thuận số tới ngày chiêm, dừng tại cung đó coi là giờ Tý, tiếp tục thuận khởi tới Giờ chiêm, dừng tại cung nào thì đó là cung Chủ thời, căn cứ vào phương vị Tiên thiên bát quái trên Thập nhị cung địa bàn theo tam hợp năm lấy quẻ mà xác định được quái Hậu thiên.

- Nguyệt kiến: Tháng 1 kiến Dần, tháng 2 kiến Mão, tháng 3 kiến Thìn, ...

- Thập nhị cung địa bàn phối phương vị Tiên thiên bát quái theo năm tam hợp
Năm Dần Ngọ Tuất cung Càn khởi tại Ngọ.
Năm Thân Tý Thìn cung Càn khởi tại Tý.
Năm Tỵ Dậu Sửu cung Càn khởi tại Dậu.
Năm Hợi Mão Mùi cung Càn khởi tại Mão

Ta có bảng sau:



Ví dụ: muốn lấy quẻ hậu thiên cho giờ Quý Mùi, ngày 21 (canh dần), tháng 10, năm Mậu dần (1998). Tháng 10 cung Hợi, coi Hợi là ngày 1 thuận đếm đến ngày 21 sẽ là Mùi. Tại Mùi coi là giờ Tý đếm đến giờ Mùi là cung Dần. Vậy cung Dần là
cung chủ thời lệnh cần tìm. Năm Dần, Ngọ Tuất càn tại Ngọ thì cung Dần là quẻ Chấn. Vậy ta có quẻ hậu thiên là quẻ Chấn


XÁC LẬP
QUÁI TIÊN THIÊN

Quẻ đơn Tiên thiên được xác lập dựa trên Hành của giờ lấy quẻ và các Thiên tinh xa trên vòng sao Thiên bồng nguyệt lệnh. Để xác lập quẻ đơn Tiên thiên phải tiến hành các bước sau.

1. XÁC ĐỊNH HÀNH CỦA GIỜ LẤY QUẺ

Muốn biết Hành của giờ lấy quẻ phải biết được tên Can Chi của nó.
Đầu tiên cần xác định Can chi của giờ lấy quẻ, như ví dụ trên là giờ Quý Mùi, sau đó tìm Nạp âm để xác định hành của nó. Như Quý Mùi nạp âm là Dương liễu Mộc. Vậy là hành mộc. Để nhanh chóng ta tra bảng sau:




2. XÁC ĐỊNH CHỦ THIÊN TINH (SAO CHỦ LỆNH)

Sau khi xác định được Hành của giờ coi quẻ, căn cứ vào Hành của các Thiên tinh để biết Hành của giờ coi quẻ trùng với Hành của Thiên tinh (sao) nào trong Thập thiên tinh của vòng Thiên bồng nguyệt lệnh sau; Thiên tinh đó là Chủ tinh sa địa bàn.
- Hành và số hiệu của Thập thiên tinh Thiên bồng nguyệt lệnh
1. Thiên bồng (Thuỷ +)
2. Thiên nhuế (Thổ -)
3. Thiên xung (Mộc +)
4. Thiên phụ (Mộc -)
5. Thiên cầm (Hoả +)
6. Thiên tâm (Kim +)
7. Thiên trụ (Kim -)
8. Thiên nhậm (Thổ +)
9. Thiên anh (Hoả -)
10. Thiên không (Thuỷ -)

Ấn Thiên tinh có Hành trùng với Hành của giờ lấy quẻ (Chủ tinh sa địa bàn) tại cung Tý trên Thập nhị cung địa bàn (chủ tinh khi sa xuống địa bàn luôn ra vào cung tý của địa bàn) và lần lượt an tiếp các sao còn lại. Sao cư tại cung Chủ thời lệnh chính là Chủ thiên tinh cần tìm, rồi lại căn cứ vào số hiệu của sao Chủ thiên tinh ứng thuộc với số thứ tự các quái của Tiên thiên bát quái mà xác định được quẻ đơn Tiên thiên.

Số thứ tự các quái: Càn 1; Đoài 2; Ly 3….

Khi an vòng sao Thiên bồng nguyệt lệnh thì 2 cung Thìn, Tuất cùng một sao; 2 cung Sửu, Mùi cùng một sao vì vòng sao Thiên bồng chỉ có 10 sao và 2 vị trí Thìn Tuất và Sửu Mùi là các vị trí xung đối thổ - mộ kho. Mặt khác vì 2 sao Thiên anh và Thiên không có số hiệu lớn hơn 8 nên khi xác định quẻ Tiên thiên phải trừ đi 8 lấy số dư làm số hiệu để xác định quẻ.

THÀNH LẬP QUẺ NGŨ LINH

Vì khí âm giáng, khí dương thăng, vì vậy để có sự giao hoà giữa hai khí âm dương (thiên địa) nên khi thành lập quẻ kép Ngũ linh, nếu ngày lập quẻ là ngày khí dương (ngày dương) thì quẻ đơn Tiên thiên (khí dương của trời) phải nằm trên (thượng quái) và quẻ đơn Hậu thiên (khí âm của đất) phải nằm dưới. Nếu ngày lập quẻ là ngày khí âm thì quẻ đơn Hậu thiên phải nằm trên và quẻ đơn Tiên thiên phải nằm dưới.

Tiếp ví dụ trên: Ta có giờ Quý Mùi là hành mộc âm, thuộc về sao Thiên Phụ (số 4). Vậy Thiên Phụ là Chủ tinh sa địa bàn.
Lại lấy Thiên Phụ đặt vào cung Tý rồi lần lượt an các sao còn lại đến cung chủ thời lệnh (cung Dần), thì sao thiên cầm ra cung sửu, thiên tâm ra cung Dần. Vậy sao Thiên tâm là chủ tinh cần tìm. Thiên tâm là kim tinh số 6 thuộc quẻ Khảm. Vậy quẻ đơn Thiên thiên là Khảm. Ngày dương Tiên thiên là quẻ thượng, vậy quẻ ngũ linh là Thủy Lôi Truân.

XÁC ĐỊNH HÀO NGUYÊN ĐƯỜNG, HÀO ĐỘNG

a. Tìm hào Nguyên đường: lấy tổng của số hiệu quẻ Hậu thiên theo Tiên thiên bát quái và số hiệu Thiên tinh ra quẻ Tiên thiên rồi chia cho 6 được số dư lấy làm hào Nguyên đường, nếu chia hết thì lấy hào 6 làm hào Nguyên đường. Trường hợp nếu tổng số hiệu ấy không quá 6 thì lấy chính số tổng đó làm hào Nguyên đường. Nói ngắn gọn: Nguyên đường là (số quẻ hậu thiên + số của sao):6 lấy số dư làm nguyên đường.

b. Tìm hào Động: Sau khi xác định được hào Nguyên đường, từ hào Nguyên đường coi là giờ Tý đếm thuận chiều (từ dưới lên) liên tiến cho tới giờ lấy quẻ thì dừng lại, ra hào nào lấy hào đó làm hào Động.


VD: Quẻ Phong Sơn Tiệm hào 6 là Nguyên Đường (7+5 =12 /6). Khởi giờ Tý hào 1, sửu hào 2… đến giờ Mùi lại chuyển xuống hào 1 cho đến giờ coi quẻ. (5 là số của sao thiên cầm)

XÁC ĐỊNH QUẺ BIẾN, QUẺ HỖ (Quẻ Hỗ Quy nạp)

Quẻ Ngũ linh thành lập ban đầu là quẻ Gốc. Quẻ Gốc có hào Động, hào Động tất biến, hào âm động biến thành hào dương, hào dương động biến thành hào âm, hào biến thì quẻ Biến, quẻ do hào Động biến tạo ra gọi là quẻ Biến. Lại có quẻ được tạo ra từ hào 2 - 5 của quẻ Gốc gọi là quẻ Hỗ... (cái này lấy như quẻ Mai Hoa).

3. QUẺ HỖ DIỄN DỊCH

Ngoài phương pháp lấy quẻ Hỗ Quy nạp như thông lệ trên còn có một phép lấy quẻ Hỗ Diễn dịch. Phép lấy quẻ Hỗ Diễn dịch không phải chỉ có một quẻ Hỗ và cũng không chỉ căn cứ vào quẻ Gốc mà có thể có nhiều quẻ Hỗ và căn cứ vào cả quẻ Gốc lẫn quẻ Biến để lấy. Quẻ Hỗ Diễn dịch này cho ta thấy Chi tiết hơn quá trình diễn biến của sự việc. Để lấy được quẻ Hỗ Diễn dịch phải căn cứ vào hào Động.
- Nếu hào Động thuộc quẻ Nội thì từ quẻ Gốc và hào Động đó ta có 3 quẻ Hỗ Diễn dịch của quẻ Gốc như sau:
+ Nhất Hỗ: Lấy hào 1, 2, 3 làm quẻ Hạ. Lấy hào 2, 3, 4 làm quẻ Thượng.
+ Nhị Hỗ: Lấy hào 1, 2, 3 làm quẻ Hạ. Lấy hào 3, 4, 5 làm quẻ Thượng.
+ Tam Hỗ: Lấy hào 2, 3, 4 làm quẻ Hạ. Lấy hào 3, 4, 5 làm quẻ Thượng.
Rồi cũng tương tự mà lấy 3 quẻ Hỗ Diễn dịch của quẻ Biến.
- Nếu hào Động thuộc quẻ Ngoại thì từ quẻ Gốc và hào Động đó ta có 3 quẻ Hỗ Diễn dịch của quẻ Gốc như sau:
+ Nhất Hỗ: Lấy hào 3, 4, 5 làm quẻ Hạ. Lấy hào 4, 5, 6 làm quẻ Thượng.
+ Nhị Hỗ: Lấy hào 2, 3, 4 làm quẻ Hạ. Lấy hào 4, 5, 6 làm quẻ Thượng.
+ Tam Hỗ: Lấy hào 2, 3, 4 làm quẻ Hạ. Lấy hào 3, 4, 5 làm quẻ Thượng.
Rồi cũng tương tự mà lấy 3 quẻ Hỗ Diễn dịch của quẻ Biến.



論語 - Luận Ngữ

1. Dương Hóa 陽貨:
寬則得眾, 信則人任焉
Độ lượng thì được lòng mọi người, thành tín thì được người ta tín nhiệm.
2. Tử Hãn 子罕:
仰之彌高, 鑽之彌堅, 瞻之在前, 忽焉在後
Ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên, chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu
Đạo (của Khổng Tử) càng ngửng lên trông càng thấy cao, càng đục càng thấy cứng, mới thấy ở trước mặt, bỗng hiện ở sau lưng.
3. Tiên tiến 先進
未能事人, 焉能事鬼

Vị năng sự nhân, yên năng sự quỷ?
Chưa biết đạo thờ người, sao biết được đạo thờ quỷ thần?