Bài 108

CỔ QUÁI-BIẾN

(233, tr. 517-8)

Trong bài kỳ 71 ta đã làm quen với quái-biến. Tuy nhiên, chính quái-biến cuả Vũ-Thức Như-Ngọc (314) đã dẫn đến ý-niệm tân-kỳ về quát. Bây giờ xin xét đến Cổ Quái Biến cuả thời-kỳ Tiên Tần Hán.

Hệ-Hạ VII/1 nói: "Dich chi vi thư dã bất khả viễn, vi đạo dã lũ thiên, biến-động bất cư, chu-lưu lục-hư, thượng hạ vô-thường, cương-nhu tương dịch, bất khả vi điển-yếu, duy biến sở thích = Dịch là một quyển sách không thể xa lià âm-dương vật-tượng được. Đạo Dịch thường đổi dời, biến-động chứ không ở yên, đi vòng quanh sáu cõi, trên dưới không thường, cứng mềm đắp đổi, chẳng nên dùng làm điển-yếu, chỉ biết biến-hoá bằng thích".

Trong Quách-thị Truyền-gia Dịch-thuyết (406), Bạch-vân Quách-Ung nói: "Đạo Dịch thay đổi nhiều lần mà biến-động, không cứ chỉ chu-lưu trong sáu hào, hoặc lấy hạ mà thăng thượng, hoặc lấy thượng mà giáng hạ, để cương thế chỗ nhu, để nhu thế chỗ cương, không thể câu nệ vào đạo thường. Chỉ có biến bằng thích mà thôi. Đó chính là Dịch Đạo".

Trong Hán Thượng Dịch-truyện (321), Chu Chấn nói: "Tụng Thoán bảo: cương lại mà được trung. Tùy Thoán bảo: cương lại mà đi xuống nhu. Cổ Thoán bảo: cương đi lên mà nhu đi xuống. Phệ-hạp Thoán nói: cương nhu phân-động mà sáng. Bí Thoán nói: nhu lại mà văn-minh, cương phân cương, cuơng đi lên rồi đi xuống nhu. Vô-võng Thoán nói: cương từ ngoài lại mà làm chủ bên trong. Đại-súc Thoán nói: cương đi lên mà chuộng hiền. Hàm Thoán nói: nhu đi lên mà cương đi xuống. Tổn Thoán nói: tổn trên, ích dưới. Lại nói: tổn cương, ích nhu. Ích Thoán nói: tổn trên, ích dưới. Lại nói: từ trên đi xuống dưới. Hoán Thoán nói: cương lại mà khôn cùng, nhu được ngôi nơi ngoài mà đi lên ngang hàng. Tiết Thoán nói: cương nhu phân, mà cương dương trung. Cương là hào dương vậy. Nhu là hào âm vậy. Hào cương nhu, hoặc gọi là lại, hoặc gọi là phân, hoặc gọi là đi lên, hoặc gọi là đi xuống, duy chỉ có biến để thích-hợp. Điều đó họ Ngu xét thuyết mà Cảnh-Quân, Phục Mạn-Dung, Thục-Tài, Lý Chi Tài, bảo là từ quẻ nào lại".

Tô Đông-pha (1036-1101) (409) nói: "Phàm cái mà Dịch gọi là cương nhu đều bắt gốc từ hai quẻ Kiền-Khôn. Kiền thi-hành nhất dương nơi Khôn nhất âm để sinh ra ba quẻ nam chấn-khảm-cấn, đều là nhất dương mà hai âm. Phàm ba quẻ con, có nói cương lại mà sáng suả quả là gốc nơi Khôn, nhờ Kiền lại để hoá. Khôn thực thi nhất âm nơi Kiền để hoá hào này mà sinh ra ba quẻ nữ tốn-ly-đoài, đều là 1 âm mà 2 dương. Phàm ba quẻ nữ, có nói nhu lại mà sáng. Điều đó gốc ở Kiền mà khôn lại để hoá".

Đông-cốc Trịnh Nhữ-Hài nói: "Dịch bắt đầu bằng vẽ vạch, và từ kiền-khôn suy ra bát-quái. Kiền-khôn biến cực. Bát-quái là do kiền-khôn sinh ra, ắt sáu-tư biệt-quái là do bát-quái sinh ra. Đó là bản chỉ làm ra Dịch. Người truyền Dịch sợ thuyết này quá thác-giản, nên mới đặt ra các thuyết hỗ-thể, quái-biến. Lại nói kiền-khôn là đại-phụ-mẫu, Phục-Cấu là tiểu-phụ-mẫu. Ôi! phụ-mẫu 10, làm sao phân-biệt được lớn nhỏ".

Án: Tham-đồng-khế : "Kiền-khôn là cửa ngõ cuả Dịch. Là cha mẹ cuả chúng quái, vì chúng quái đều do kiền-khôn sinh ra." Trong Tiên-thiên-học cuả Lý Đỉnh Chi và Thiệu-tử, quái-đồ đều do Phục, Cấu, Lâm, Độn, Thái, Bĩ, Đại-tráng, Quan sinh ra, điều này cho ta thấy rõ xuất-xứ là Tham-đồng-khế. Hơn nữa, thuyết cuả họ Lý, họ Thiệu không những đánh mất đích-truyền cuả Trần-Đoàn, mà còn mất luôn cả ý-chỉ cuả Thoán-truyện nữa.

Thoán-truyện nói: "Thái, nhỏ đi mà lớn lại, ắt hanh, ắt là trời đất giao mà muôn vật thông. Trên dưới giao mà thửa chí giống. Trong dương mà ngoài âm, trong kiện mà ngoài thuận, trong quân-tử mà ngoài tiểu-nhân. Đạo quân-tử tăng-trưởng, đạo tiểu-nhân tiêu tan. Bĩ là thời-đại không có đạo làm người, người quân-tử trinh-chính thì không lợi, cái lớn đi, cái nhỏ lại, ắt là trời đất không giao mà muôn vật không thông. Trên dưới không giao mà trời đất vô-bang. Trong âm mà ngoài dương, trong nhu mà ngoài cương, trong tiểu-nhân mà ngoài ngụy-quân-tử. Đạo tiểu-nhân tăng-trưởng, đạo quân-tử tiêu tan".

Trong Tượng-số-luận, Lệ-châu Hoàng Tông-Hi (1610-1695) nói: "Thuyết quái-biến bắt nguồn từ 'nhỏ đi, lớn lại', 'lớn đi, nhỏ lại' cuả hai quẻ Thái-Bĩ, mà phần nhiều Thoán-truyện cuả Phu-tử đã phát-minh quái-nghiã. Cho nên đó là một đại-tiết-mục của Dịch vậy. Thượng-Kinh 30 quẻ, phản-đối 12 cặp, Hạ-Kinh 34 quẻ, phản-đối 16 cặp. Kiền, Khôn, Di, Đại-quá, Khảm, Ly, Trung-phu, Tiểu-quá không phản-đối được, ắt đảo thửa chẵn lẻ để tương-phối quái-thể. Phản-hào từng đôi một cũng tùy quẻ mà biến, ngoảnh lại đó, ắt cát ở đó, ắt hung ở kia, đáng vị ở đó, không đáng vị ở kia. Nhờ vào phản-đối mà hiểu lẽ vãng lai ỷ-phục, đó chính là điều ta gọi là 'nắm vững hai đầu' vậy. Thi-hành thì có giữ vững không làm xằng, phản thì có cái dụng cuả thiên-xung, thời-cơ thì có hội-ngộ phong-hanh, phản thì có nỗi buồn cuả ky-lữ (ở trọ). Không phải là quẻ này sinh ra quẻ kia. Lại cũng không phải là hào này tráo chỗ với hào kia".

Án: Hệ-Thượng X/1 nói: "Dịch có bốn điều là đạo cuả thánh-nhân: về ngôn-ngữ thì chuộng lời, về hoạt-động thì chuộng biến-hoá, về sự chế đồ dùng thì chuộng hình-tượng, về bói toán thì chuộng lời đoán". Biến cư nhất sao? Dịch cùng ắt biến, biến ắt thông, thông ắt lâu bền. Biến là đại-nghiã trong Dịch. Xem lời Khổng-tử nói: "Trên dưới vô-thường, cúng mềm đắp đổi, trong dương mà ngoài âm, trong nhu mà ngoài cương, ắt phàm trong Thoán-truyện cương-nhu vãng lai, trên dưới trong ngoài đều chủ quái-biến, mà lời có thể hiểu được". Như vậy chư nho đại-khái lấy một hào làm duyên-cớ, chỉ có quẻ 3 hào âm, 3 hào dương là có thể thông, còn quẻ 2 hào âm, 2 hào dương không thể thông được. Vô-võng, cương từ ngoài lại, thăng lên nhu dùng thời-thăng. Chỉ lấy phản-đối mà nói, ắt chẳng thể thông được. Cho nên, quẻ có thể bao quát hào mà hào không thể bao hàm quẻ được. Quẻ biến ắt hào tùy tùng mà động. Khôn sách kiền, được chấn-khảm-cấn, lấy một hào cương làm chủ. Kiền sách khôn, được tốn-ly-đoài, lấy một hào nhu làm chủ. Thoán-truyện xưng là cương-nhu, hoăc chỉ quẻ, hoặc chỉ hào, tùy văn dựng nghiã, được đấy. Đại-để tam âm, tam dương, Thái-Bĩ phần nhiều lấy quẻ mà nói, kỳ dư đều lấy hào mà nói. Hai hào âm, hai hào dương, ắt là đạo trời đất lấy hào mà nói. Như vậy, thửa sở-chủ là một cương cuả quẻ dương, một nhu cuả quẻ âm vậy.

KẾT NGÔN

Kinh Dịch là gì? Kinh Dịch là quẻ, Thoán, hào kèm theo Thập Dực cuả Khổng-tử. Nghiệp tư bốn Thánh, đời trải Tam-cổ, nghiã là không phải là cuả riêng ai, cuả riêng đều là giao-hỗ, thác tổng, khác với Kinh Thư phân thành Ngu, Hạ, Thương, Chu, hoặc Kinh Thi phân thành Phong, Nhã, Tụng, khác với Kinh Xuân Thu phân thành 12 Công, nên chi là đầu mối cuả Thượng-Kinh. Khảm-ly là âm-dương đã thành chất, nên kết-thúc Hạ–Kinh. Không những chỉ có thế. Xem một Thiên Tự-quái-truyện mới thấy thứ-tự 64 quẻ không thể thay đổi được. Cho nên không đọc Toàn Kinh thì không thể nào hiểu nổi Dịch. Quẻ để biểu-thị tượng, hào để biểu-thị biến, quẻ hào hợp nhất, phân hai, quẻ thủ tượng, bàng-thông tương-thác. Kiền với khôn là bàng-thông, mà Bĩ-Thái là kiền-khôn tương-thác. Khảm với ly là bàng-thông, mà Ký-tế, Vị-tế là khảm-ly tương-thác. Phàm tương-thác, nghiã quẻ mỗi mỗi hỗ-chứng. Hào biến-động ở vị: đáng vị ắt cát, thất đạo ắt hung. Đáng vị là gì? Đáng vị là nhị-ngũ đi trước, sơ-tứ, tam-thượng theo sau để ứng. Tỷ như hai quẻ Kiền-Khôn, nhị sang ngũ, Kiền là Đồng-nhân, Khôn là Tỷ. Tứ sang sơ, Kiền là Gia-nhân, Khôn là Truân. Thượng sang tam, Kiền là Cách, Khôn là Kiển. Ấy gọi là đáng vị. Thất-đạo là gì? Không chờ nhị-ngũ đi, mà sơ-tứ, tam-thượng lại đi trước. Như hai quẻ Kiền-Khôn, nhị-ngũ chưa đi, tứ sang sơ, Kiền là Tiểu-súc, Khôn là Phục. Thượng sang tam, Kiền là Nhu, Khôn là Minh-di. Cho nên, thất-đạo. Bởi vậy, không thông 64 quẻ, không hiểu được quẻ nào cả. Không thông 384 hào, không hiểu được hào nào cả. Sở dĩ nghiên-cứu bản thân Kinh Dịch, nên thống-độc toàn thư mà nghiền ngẫm cho có thống-hệ, đồng thời theo sát phương-pháp khoa-học. Ngay từ đầu, nên tổng-quan toàn thể các ngôn-từ, chứ không nên đi ngay vào chi-tiết vội.

Đáng Vị Thất Đạo

Nhị-ngũ

Tứ-sơ

Thượng-tam

Tứ-sơ

Thượng-tam

A M

A e

A q

Q I

A E

B H

B C

B g

B X

B d

BÀI TẬP

Trong mỗi ô, điền vào chỗ trống bên phải mỗi quẻ đơn chiếc.

Đáng Vị Thất Đạo

Nhị-ngũ

Tứ-sơ

Thượng-tam

Tứ-sơ

Thượng-tam

K d

K

K

K

K

L H

L

L

L

L


THƯ TỊCH KHẢO (CHƯƠNG 08)

003 Hán Thư 漢書, Ban Cố 班固 soạn, do An Bình Thu 安平秋 & Trương Truyền Tỷ 張傳璽 Chủ-biên in Nhị Thập Tứ Sử Toàn Dịch 二十四史全譯, do Hứa Gia Lộ 許嘉璐 Chủ-biên, Toàn 3 Sách, Đệ-nhất-bản, Hán-Ngữ Đại-Từ-Điển Xuất-bản-xã, Thượng-hải, Tháng 1-2004.

006 Tân Dịch Hoài-Nam-tử 新譯淮南子, Hùng Lễ Hối 熊禮匯 chú-dịch, Hầu Nãi Tuệ 候迺慧 hiệu-duyệt, 2 Tập, Tam-dân Thư-cục, Đài-bắc, 1997.

007 Tân Dịch Quốc-ngữ Độc-bản 新譯國語讀本, Dịch Trung Thiên 易中天 chú-thích, Hầu Nãi Tuệ 侯迺慧 hiệu duyệt, Tam Dân Thư-cục, Đài-bắc, 1995.

019 Hậu-Hán-Thư 後漢書, Phạm-Diệp 范嘩 soạn , do Hứa Gia-Lộ 許嘉璐 chủ-biên in Nhị Thập Tứ Sử Toàn Dịch 二十四史全譯, do Hứa Gia Lộ 許嘉璐 Chủ-biên, Toàn 3 Sách, Đệ-nhất-bản, Hán-Ngữ Đại-Từ-Điển Xuất-bản-xã, Thượng-hải, Tháng 1-2004.

022 Hoàng-Cực Kinh-Thế Thư-Truyện 皇極經世書傳, 8 quyển, Tống ● Tam Xuyên Thiệu Ung Nghiêu-phu 三川邵雍堯夫 soạn, Áo-châu Hoàng Kỳ 奧洲黃畿 tông-đại-truyện, Nam Tá Thái Tuyền hiệu 男佐泰泉校, Mạnh-hạ Ất-mùi trùng-hiệu, Trung-hoa Thư-cục ảnh-ấn.

027 Tam-Dịch Bị-di 三易備遺, Tống ● Chu Nguyên-Thăng 朱元昇 soạn, Khang-hi Nguyên-san bản, 1680.

045 Sử Ký 史記, Hán è Tư-mã Thiên 司馬遷soạn, Tống è Bùi Nhân 裴駰 tập-giải, Đường è Tư-mã Trinh 司馬真sách-ẩn, Đường è Trương Thủ Tiết 張守節chính-nghĩa, Hoằng-nghiệp Thư-cục tái-bản, Đài-bắc, 15.04.1995.

078 Thi Kinh Kim Chú 詩經今注, Mao Hanh 毛亨 chú, Trịnh Huyền 鄭玄tiên, Khổng Dĩnh Đạt 孔穎達sớ, Cao Hanh 高亨kim-chú, Thượng-hải Cổ-tịch xuất-bản-xã, nhị-thứ ấn-loát, tháng 8-1982.

248 Dịch Đồ Lược 易圖略, Tiêu-Tuần 焦循 (1763-1820) soạn, in Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng Biên 皇清經解易類彙編 (tr. 1161-1217), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc.

257 Xuân Thu Tam Truyện 春秋三傳, 3 Quyển, Khổng-tử niên-soạn, bản dịch của Ân-sư, Cụ Sơn-mai Hoàng Khôi (1905-1970), Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo-dục, Sài-gòn, 1969-1971.

268 Học Dịch Bút-đàm 學易筆談, 2 Tập, Hàng Tân Trai杭辛齋 (1869-1924) trước, in Hàng-thị Dịch-học Thất Chủng杭氏易學七種 (Tập Thượng, tr. 251-446; Tập Hạ, tr. 449-651), Chu-dịch Công-tác-thất điểm-hiệu, Cửu-châu Xuất-bản-xã, Bắc-kinh, Tháng 1-2005.

274 Tiên Tần Hán Ngụy Dịch Lệ Thuật Bình 先秦漢魏易例述評, Tái-bản, Khuất Vạn Lý 屈萬里 trước, Học-sinh Thư-cục, Đài-loan, Tháng 3-1975.

278 Chu Dịch Chiết Trung 周易折中, Tái-bản, Thượng Hạ Tập, Thanh è Đại-học-sĩ Lý Quang-Địa 李光地 toản, Chân Thiện Mỹ, Đài-bắc, Tháng 7-1981.

280 Xuân Thu Phiền-Lộ Nghĩa Chứng 春秋繁露義證, Nhất bản, Tây-Hán è Đổng Trọng-Thư 董仲舒(179?-104 BC) nguyên-tác, Tô Dư 蘇輿 sọan, Chung Triết 鐘哲 điểm-hiệu, Trung-Hoa Thư-cục, Bắc-kinh, Tháng 12-1992.

290 Trung-Dung, Khổng-Cấp nguyên-tác, Chu-Hi tập-chú, Bản Việt-dịch của Cụ Cử Hồng-liên Lê-Xuân-Giáo, Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo-dục, Sài-gòn, 1972.

277 Tam-Dich Đỗng-Ky 三易洞璣, Minh è Hoàng Đạo Chu 黃道周 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 15, Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 7-1995.

280 Xuân Thu Phiền-Lộ Nghĩa Chứng 春秋繁露義證, Nhất bản, Tây-Hán è Đổng Trọng-Thư 董仲舒 (179?-104 BC) nguyên-tác, Tô Dư 蘇輿 sọan, Chung Triết 鐘哲 điểm-hiệu, Trung-Hoa Thư-cục, Bắc-kinh, Tháng 12-1992.

308 ¢ Trang-tử Nam-Hoa-Kinh (Nội, Ngoại và Tạp-Thiên), Thu Giang Nguyễn-Duy-Cần dịch và bình-chú, Khai-Trí, Sài-gòn, 1962.

309 Tân-thích Trang-tử Độc-bản新譯莊子讀本, Hoàng Cẩm-Hoành 黃鋐錦 chú-dịch,

Tam-dân Thư-cục, Đài-bắc, tháng 11-1997.

314 Ngũ-phong Sơn-phòng Dịch-học 五峰山房易學, Sơ-bản, Thức-như Vũ-Ngọc 式如武鈺 trước, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1979.

316 Chu-Dịch Dữ Nho, Đạo, Mặc 周易與儒道墨, Sơ-bản, Trương Lập-Văn 張立文 trước, Đông-đại Đồ-thư Công-ty xuất-bản, Vụ-phong, Đài-bắc, Tháng 11-1991.

319 Dịch-học Tân-luận 易學新論, Đài tam-bản, Nghiêm Linh-Phong 嚴靈峰 biên-trước, Chính-trung Thư-cục, Đài-bắc, Tháng 11-1976.

321 Hán Thượng Dịch-Truyện 漢上易傳 (11 Q), phụ Quái-đồ 卦圖 (3 Q), Tùng-thuyết 叢說 (1 Q), Tống ● Chu Chấn 朱震 soạn, Thông-chí-đường Kinh-giải Bản.

324 Luận-Ngữ 論語 , Dịch-giả Lê Phục-Thiện, Nhà xuất-bản Văn-học, Sài-gòn, Tháng 3-1992.

409 Đông-Pha Tiên-sinh Dịch-truyện 東 坡先生易傳, Tống ● Tô-Thức 蘇軾 soạn, Lưỡng Tô Kinh-giải Bản, 1597.

Nguyễn Tuân


Sự tiến bộ của bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng được thể hiện ở một lý tưởng tiến bộ, ở sự tham gia của nhân dân và sức cuốn hút đối với đội ngũ tri thức.





Nguyễn Tuân thời trẻ.








Từ trái sang phải: Ngô Tất Tố, Nguyễn Xuân Sanh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân: những văn nghệ sĩ hàng đầu của Văn học Cách mạng.







Quy định mới về bảo hiểm y tế tai nạn giao thông

Liên Bộ Y tế và Tài chính vừa ban hành Thông tư liên tịch số 39/2011 hướng dẫn thủ tục thanh toán chi phí khám, chữa bệnh đối với người tham gia bảo hiểm y tế bị tai nạn giao thông.

Theo đó, từ ngày 26-12 tới, tất cả các trường hợp bị tai nạn giao thông, vào viện, không phải tự đi xin giấy xác nhận có vi phạm pháp luật về giao thông hay không.

Thông tư mới của liên bộ Y tế và Tài chính quy định: Các trường hợp tai nạn giao thông, vào viện, khi chưa xác định được tình trạng vi phạm pháp luật thì đều được thanh toán bảo hiểm. Trong vòng 2 ngày sau đó, cơ quan Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm gửi văn bản đến Cảnh sát giao thông hoặc Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội nơi xảy ra vụ tai nạn đề nghị xác minh hành vi của người bị tai nạn giao thông. Nếu sau 3 tháng mà không xác minh được, thì cơ quan Bảo hiểm xã hội phải thanh toán bảo hiểm y tế như đối với trường hợp không vi phạm.

Ngược lại, trong 3 tháng, nếu có đủ căn cứ xác định người bị tai nạn vi phạm pháp luật về giao thông thì có 3 hướng giải quyết. Thứ nhất, nếu người bị tai nạn còn đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thì cơ quan Bảo hiểm xã hội thông báo trực tiếp cho phía người bị tai nạn biết và không thanh toán bảo hiểm y tế. Thứ 2, trường hợp người bị tai nạn tử vong thì không thu hồi số tiền mà quỹ Bảo hiểm y tế đã thanh toán. Thứ 3, nếu người bị tai nạn đã ra viện thì cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thu hồi số tiền đã chi trả. Nếu không thu hồi được thì kết thúc năm tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổng hợp các trường hợp để Bộ Y tế và Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ cho phép quyết toán vào quỹ bảo hiểm y tế.

Ngoài ra, Thông tư mới cũng quy định những trường hợp dưới 14 tuổi và từ 80 tuổi trở lên khi bị tai nạn giao thông, vào viện, được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định mà không phải xác định hành vi vi phạm pháp luật về giao thông

Thông tư mới này thay thế Thông tư 09/2009 của liên Bộ Y tế và Tài chính vì Thông tư 09 có những điểm không rõ ràng và bất hợp lý, nhiều lần bị Bộ Tư pháp yêu cầu sửa đổi.

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/7/24/24/166818/Default.aspx

Luật để làm gì?

Tuần qua, dư luận xôn xao về đề xuất xây dựng Luật Nhà văn với hầu như tất cả ý kiến cho rằng một dự luật như thế là không cần thiết trong bối cảnh có rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần luật hóa hơn nhiều.

Thật ra, đằng sau một đề xuất như thế còn nổi lên một vấn đề quan trọng khác: chúng ta xây dựng luật là để điều chỉnh các mối lợi ích để tiến đến một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh hay luật nhằm mục đích phục vụ lợi ích nhóm?

Để dễ hình dung, chúng ta hãy lấy vấn đề bảo hiểm y tế để minh họa. Thời báo KTSG số ra tuần rồi (ngày 3-11-2011) đăng bài “Người nghèo ít được hưởng lợi từ bảo hiểm y tế” cung cấp nhiều con số cho thấy đã có sự chênh lệch rất lớn giữa việc thụ hưởng quyền lợi từ bảo hiểm y tế giữa người nghèo và người giàu, giữa nông thôn và thành thị. Người dân vùng khó khăn chỉ được đi khám, chữa bệnh tại y tế cơ sở và được chi trả khoảng vài trăm ngàn đồng cho những lần khám chữa bệnh. Trong khi đó, tại các thành phố, số tiền chi trả cho người tham gia bảo hiểm y tế có thể lên tới vài trăm triệu đồng, chẳng khác nào “nhà nghèo đóng tiền khám bệnh cho nhà giàu”.

Đó là một thực tế. Nếu một đại biểu Quốc hội nào đó thấy không thể kéo dài tình trạng trên bèn suy nghĩ phải xây dựng một đạo luật mới hay chỉnh sửa đạo luật cũ sao cho việc thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế được công bằng hơn. Các chuyên gia luật pháp sẽ giúp soạn thảo đề án luật thể hiện được tinh thần này - một công việc không phải dễ dàng gì. Dự luật được đưa ra thảo luận, các đại biểu gần gũi với quyền lợi của những bệnh viện từng hưởng quyền lợi cao trong bảo hiểm y tế sẽ phản đối nhưng đa số đại biểu vì quyền lợi của cử tri sẽ thông qua dự luật. Một vấn đề xã hội được giải quyết. Xã hội tiến gần hơn mục tiêu công bằng thêm một chút nữa.

Tinh thần làm luật là như vậy chứ luật không phải được làm ra để tạo điều kiện cho bất kỳ một ai hưởng được những ưu đãi, những đặc quyền hay trao cho một nhóm người nào đó sự thuận tiện so với nhóm người khác. Nếu luật nhằm tạo sự thuận tiện cho chính quyền trong việc quản lý cũng không đúng với tinh thần luật là nhằm ngăn ngừa sự bất công.

Trong bối cảnh đó, dự án Luật Nhà văn nên bị bác bỏ khỏi chương trình làm luật của Quốc hội vì lý do gì? Nếu nó được dùng để điều chỉnh lợi ích của nhà văn thì đã có những sắc luật khác chi phối như Luật Sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, các quy định về hợp đồng… Ngược lại, nếu nó được dùng để chi phối hoạt động sáng tác của nhà văn thì đúng là nó phục vụ cho lợi ích của Hội Nhà văn trong công việc “quản lý” của họ nên đáng bị phê phán, châm biếm. Nếu chỉ vì muốn kiểm soát việc nhà văn viết hồi ký, tránh chuyện gây tranh cãi nhà văn này bóp méo sự thật, nhà văn kia bịa chuyện, xuyên tạc mà cất công trình dự án luật thì đúng là chuyện tầm phào.

Nhìn rộng hơn một chút, chúng ta sẽ thấy những sáng kiến đề xuất xây dựng luật theo kiểu đó ngày càng xuất hiện nhiều. Chúng sẽ không dễ bị phản bác như Luật Nhà văn đâu - bởi chúng cũng sẽ xuất phát từ lợi ích nhưng lợi ích của nhóm đông hơn, tiếng nói mạnh hơn. Từ chuyện sát sườn như hạn chế ô tô hay hạn chế xe máy đến chuyện khó thấy hơn như ưu tiên cho thủy điện hay ưu tiên cho bảo vệ rừng. Người đại biểu sẽ bị đặt vào những tình huống khó xử hơn khi phải cân nhắc hài hòa lợi ích của các nhóm dân cư. Nhưng sự phân vân của họ sẽ chấm dứt khi họ quyết định dựa trên nền tảng - luật pháp là nhằm phục vụ cho sự công bằng của xã hội khi loại trừ được sự bất công và lạm quyền.

Nguyễn Vạn Phú
http://www.nguoiduatin.vn/luat-de-lam-gi-a19521.html

Triết lý của một người giàu

Tôi vốn rất ngại những danh hiệu mà thời nay nhiều người mang trên mình như một thứ trang sức! Nhưng, khi trò chuyện với ông, nghe ông kiến giải những vấn đề về văn hóa, về con người, về kỹ nghệ đúc vàng, về những cuốn sách mà ông đã đọc …Nhất là khi xem kỹ tập “ Thơ và luận” mà ông tặng tôi, quả thực, tôi đã có một cách nhìn khác về những doanh nhân, những người giàu như ông.

Tấm danh thiếp mà ông đưa cho tôi có ghi: Vũ Minh Châu. - Tổng giám đốc; Doanh nhân văn hóa; Nghệ nhân quốc gia.

“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử; Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”
(Nguyễn bỉnh Khiêm).
“ Trong tay đã sẵn đồng tiền, dù cho đổi trắng, thay đen khó gì”
( Đại thi hào Nguyễn DU ).
“Có tiền việc ấy mà xong nhỉ ? Đời trước làm quan cũng thế a”
(Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến ).
Còn bây giờ dân gian luận về đồng tiền như sau:
“Tiền là tiên là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già vv …”.

“ Kiếm tiền khó hơn tiêu tiền
Nhưng, người biết tiêu tiền ít hơn người biết kiếm tiền”.
“ Tiền ở trong két là tiền của người ta
Tiền tiêu đi mới là tiền của mình” (Trích THƠ VÀ LUẬN ).

“ Giàu quá hóa nghèo
Người thông minh biết làm giàu tới mức cần thiết”.
“ Người giàu nhất hành tinh cũng không đủ mọi thứ
Ai nghèo nhất thế giới cũng không thiếu tất cả”
“ Giàu mà không chia sẻ là có tội”
“ Người giàu đạo đức tài năng
Như một cây sâm đến tuổi càng quý”
“ Người giàu không tính bằng số tiền ở lại
Mà được tính bằng số tiền tiêu đi có ích”

“Người biết cho, càng cho, càng được
Kẻ vụng nhận, càng nhận, càng mất”.
“ Đi bằng lời nói nhanh hơn đi bằng đôi chân”
“ Học để biết học tiếp”
“ Lẽ phải thuộc về người mang lại quyền lợi cho mình”
“ Người ta có thể đổi tất cả để lấy sức khỏe
Chứ không phải đổi sức khỏe để lấy tất cả’’
“ Hoa đẹp thì đáng yêu
Người đẹp thì nên tránh”


http://tamnhin.net/Guong-mat--Phong-cach/16730/Triet-ly-cua-mot-nguoi-giau-Tien-khong-phai-la-tat-ca-.html




Sự thật về ngày “Tam trùng” với lịch cổ của người Maya

Một số người chỉ nghĩ ngày thứ Sáu (11/11/2011) chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên không tránh khỏi, song nhiều người lại cho rằng, theo người Maya cổ đại thì đó là tín hiệu liên kết tâm linh với sự chết chóc và đổi mới tinh thần.

Xung quanh ngày "Tam trùng" – 11/11/2011 (ngày, tháng, năm trùng) có nhiều quan niệm khác nhau. Song có lẽ câu chuyện hấp dẫn nhất về ngày này là liên quan tới lời tiên tri của người Maya vào năm 2012.

Lịch đếm của người Maya cổ đại kết thúc cuối cùng sẽ diễn ra vào ngày 21/12/2012. Nhiều người tin rằng vào ngày này sẽ mở ra một kỷ nguyên tinh thần mới, thậm chí là ngày Tận thế.

Một số người tin rằng rất có thể ngày 11/11/2011 có liên quan đến ngày 21/12/2012, khi họ thấy Đài quan sát Hải quân Mỹ đã đặt thời gian chính xác của ngày Đông chí năm 2012 là 11h11 trùng với giờ quốc tế là vào ngày 21/12/2012.


Sự thật về ngày ’Tam trùng’ với lịch cổ của người Maya - Tin180.com (Ảnh 1)
Các nhà khoa học cho biết trùng hợp thời gian chỉ là hiện tượng đồng đại (Ảnh: Livescience)

Đánh giá điều này, John Hoopes, một học giả chuyên nghiên cứu lịch sử Maya tại Đại học Kansas nói với Livescience rằng: "Hiện tượng này chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, được các nhà khoa học gọi theo khái niệm là Đồng đại. Dựa vào đây nhiều nền văn hóa đã khuếch đại sự Đồng đại lên”.

Việc Đài quan sát Hải quân Mỹ đưa ra thời gian chính thức ngày Đông chí năm 2012, khi độ nghiêng của Trái đất xa nhất với với ánh nắng Mặt trời thì lại trùng hợp vào đúng 11h12 ngày 21/12/2012 càng làm cho một số người tin ngày 11/11/2011 là ngày có sự liên quan tâm linh với tiên đoán của người Maya.

Khuấy động điều này một phần cũng do các tin nhắn, các trang mạng trực tuyến. Cùng với thời gian này thì các thời gian như 12h12, 10h10, 12h34 cũng xuất hiện những tin đồn tương tự.

Song những con số này có thể dường như có một cái gì đó rất đặc biệt với người dân vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức của họ. “Mọi người có ấn tượng với giờ 11h11 hơn là 4h29 hoặc 6h53 hoặc là một cái gì đó như thế”, Hoopes cho biết.

Các nhà tâm lý học cho biết, chính sự tò mò này đã đưa người ta tìm kiếm sự trùng hợp với các thứ khác. Một khi coi ngày 11/11/2011 là một con số có ý nghĩa thì có thể tìm thấy sự trùng hợp ở khắp mọi nơi.

Một trang mạng trực tuyến còn cho rằng, Mặt trời đang trong chu kỳ hoạt động mạnh có liên hệ với tiên đoán của người Maya. Song thực tế, các nhà khoa học NASA cho biết, trong năm 2012 Mặt trời chưa gây ra sự nguy hại nào.

“Thực tế người Maya đã theo dõi các chu kỳ lớn của thời gian, và có một chu kỳ lớn thời gian bắt đầu từ năm 3013 trước Công nguyên trên lịch của chúng tôi, và có lý do để nghĩ rằng chu kỳ thời gian lớn có thể diễn ra vào ngày 21 năm 2012”, Hoopes nói.

Theo Hoopes, người Maya có xu hướng xem thời gian theo chu kỳ với sự kiện quan trọng lặp lại vào ngày tương ứng trong một chu kỳ. Cho nên những gì người Maya để lại vẫn là một câu hỏi bí mật.

Lịch của người Maya có nhiều điểm cộng hưởng với ngày nay chỉ đơn giản vì người Maya cổ đại được xem như thuộc về một nền văn hóa kỳ lạ với trí tuệ rất tân tiến. Một thế kỷ trước, người ta cũng tin những điều tương tự xảy ra liên quan đến văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa.


http://tin180.com/khoahoc/ho-so-tu-lieu/20111111/su-that-ve-ngay-tam-trung-voi-lich-co-cua-nguoi-maya.html

Mặt trăng sẽ bị phá hủy vào ngày 8/11 ?





Ảnh chụp của NASA cho thấy đường đi của 2005 YU55 khi nó đi qua Trái đất và Mặt trăng vào ngày 8/11 tới (Ảnh: Livescience)



5 bài tập rèn não mỗi ngày

Việc tự đặt ra những thử thách, kích thích và luyện tập hiệu quả cả 5 nhóm chức năng của bộ não sẽ giúp sống khỏe, minh mẫn ngay cả khi tuổi tác đã nhiều.

Ghi nhớ


Ghi nhớ đóng vai trò thiết yếu hơn cả trong nhóm các chức năng tri giác, nó có trong những việc đọc, lập luận, tính toán.

Để duy trì trí nhớ tốt, bạn cần phải rèn luyện, và điều này đơn giản hơn bạn tưởng: Nghe nhạc rõ ràng là hoạt động rất thú vị, và nếu bạn chọn một bài hát không biết hoặc không nhớ lời, bạn sẽ tự làm tăng lượng acetylcholine, một chất hóa học giúp kiến tạo thêm cho não, nâng cao khả năng ghi nhớ cho não bộ.

Hãy tự tạo ra thử thách cho mình bằng cách tắm hoặc mặc quần áo trong bóng tối, hoặc dùng tay trái đánh răng. Tất cả những hoạt động như vậy sẽ giúp tạo ra những kết nối mới giữa các tế bào thần kinh khác nhau trong bộ não.


Sự tập trung


Khả năng tập trung là yếu tố rất cần thiết gần như trong mọi hoạt động hàng ngày của con người. Biết tập trung tốt sẽ giúp bạn có thể duy trì sự chú ý ngay cả khi xung quanh rất ồn ào và liên tục bị ngắt quãng để hoàn thành nhiều hoạt động trong cùng một thời điểm.

Ta có thể cải thiện năng lực tập trung bằng cách đơn giản là thay đổi những thói quen hàng ngày. Chẳng hạn, bạn có thể thay đổi đường đi tới công ty hay sắp xếp lại bàn làm việc, cả hai cách đó đều sẽ bắt trí óc bạn phải tỉnh táo hơn để thoát khỏi những thói quen.

Khi tuổi tác nhiều hơn, sức chú ý của chúng ta cũng giảm dần, điều này khiến ta dễ bị phân tán hơn và khả năng kết hợp nhiều hoạt động cùng lúc cũng giảm hiệu quả. Bằng cách kết hợp các hoạt động như vừa nghe một cuốn sách nói vừa chạy bộ, hay làm toán trong khi lái xe có thể khiến não bạn hoạt động nhiều hơn trong cùng một thời điểm.


Ngôn ngữ


Các hoạt động ngôn ngữ sẽ buộc chúng ta phải nhận diện, ghi nhớ và hiểu ý nghĩa các từ vựng. Chúng cũng sẽ giúp ta rèn luyện kỹ năng ngữ pháp, sự trôi chảy trong khi nói, viết và tăng lượng từ vựng.

Với bài tập hàng ngày, bạn có thể mở rộng kho từ mới và dễ dàng nhận diện các từ ngữ quen thuộc. Chẳng hạn, nếu bạn chỉ thường xuyên đọc những bản tin thể thao thì bây giờ, hãy thử đọc những bài báo viết về thương mại một cách kỹ lưỡng.

Bạn sẽ tiếp cận với những từ mới, tuy nhiên, chúng sẽ dễ hiểu hơn khi đọc trong một văn cảnh nhất định và thậm chí, nếu bạn chưa hiểu được, bạn có thể tra cứu bằng từ điển. Hãy dành thời gian để hiểu những từ mới đó ngay trong ngữ cảnh văn bản, điều này sẽ giúp bạn xây dựng kỹ năng ngôn ngữ và dễ dàng vận dụng những từ ngữ mới trong cuộc sống hàng ngày cũng như công việc.


Nhận thức thị giác


Chúng ta đang sống trong một thế giới 3 chiều đầy màu sắc. Việc phân tích các thông tin về mặt thị giác là điều cần thiết và có thể được thực hiện ngay trong môi trường sống của bạn.

Để luyện tập chức năng tri giác này, bạn hãy đi vào một căn phòng, chọn tìm 5 đồ vật và ghi nhớ vị trí của chúng. Khi ra khỏi phòng, hãy cố gắng nhớ lại 5 vật đã chọn đó cùng vị trí của chúng. Bạn thấy điều này quá đơn giản ư? Hãy chờ qua 2 giờ đồng hồ sau đó, và nhớ lại những vật này cùng vị trí của chúng.

Hãy nhìn về phía trước và ghi lại mọi điều bạn có thể thấy trước mặt và hai bên tầm nhìn của bạn. Hãy bắt mình nhớ lại mọi điều và ghi ra. Cách làm này sẽ buộc bạn phải sử dụng trí nhớ và rèn luyện cho trí não khả năng tập trung vào những điều xung quanh bạn.


Chức năng hành động


Mặc dù có thể không nhận ra, nhưng bạn đang sử dụng kỹ năng logic và lập luận hàng ngày để đưa ra những quyết định, xây dựng các giả thuyết và xem xét những kết quả có thể diễn ra trong những hành động của mình. Các hoạt động trong đó bạn phải xác định chiến lược để đạt được kết quả mong muốn và tính toán những hành động thích hợp để tìm ra giải pháp trong thời gian ngắn nhất có thể chính là những hoạt động yêu thích bạn làm mỗi ngày, giống như các hoạt động tương tác xã hội và các trò game chẳng hạn.

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với một người bạn có thể kích thích hoạt động trí tuệ vì bạn sẽ phải cân nhắc những lời đối đáp có thể và những kết quả mong muốn. Các trò game đòi hỏi người chơi phải có chiến lược và kỹ năng giải quyết những khó khăn để đạt được mục đích tốt nhất.


Luyện tập trí óc


Cùng với tuổi tác, việc rèn luyện trí óc cũng quan trọng như luyện tập cơ thể. Và bây giờ, bạn đã biết 5 nhóm chức năng tri giác của não và cách thức luyện tập chúng, thế nên bạn sẽ nhận thấy dễ dàng hơn những hoạt động hàng ngày có thể giúp mình rèn luyện trí óc và não bộ ra sao.


http://dantri.com.vn/c7/s7-534909/5-bai-tap-ren-nao-moi-ngay.htm

Trích dẫn

Căn cứ tín hiệu “ nạp âm” của hệ ngũ âm phương Đông = cung - thương - giốc - chủy - vũ, được ghi trong sách Nội Kinh:

Tại âm vi giốc, khí hóa vi Mộc
Tại âm vi chủy, khí hóa vi Hỏa
Tại âm vi cung, khí hóa vi Thổ
Tại âm vi thương, khí hóa vi Kim
Tại âm vi vũ, khí hóa vi Thủy


chuyển đổi ra ký tự số đếm hệ thập phân ( 0,1,2,3…)

Posted Image
.......................Đồ.........Rê.........Mi.........Sol.........La
........................Tý.......Thìn........Tị..........Dần......Mão
......................Ngọ......Tuất........Hợi.......Thân.....Dậu

Ghi chú: hành gốc (biến) căn cứ theo sách Nội Kinh, còn hành ngọn (hóa) thì theo luật sinh xuất ngũ hành (Thổ sinh Kim, Thủy sinh Mộc….)

Vạn vật có sự sống ở trần gian này, được người xưa tích lũy trải nghiệm bằng luận thuyết Ngũ hành ( Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ) tức là 5 cách vận động – dịch chuyển – biến thái – chuyển hóa… của mọi quá trình phát triển & hủy diệt sự vật (cũng có thể khái quát hơn : số lượng & chất lượng sự vật luôn tiếp biến cho nhau !)

- Hành vi “bản năng” là động thái hành Mộc (sinh sôi, nẩy nở…)
- Hành vi “hành động” là động thái hành Hỏa (phát huy, phát triển...)
- Hành vi “kinh nghiệm” là động thái hành Thổ (thu gọn, qui nạp…)
- Hành vi “phương pháp” là động thái hành Kim (chắt lọc, chọn lựa…)
- Hành vi “phản xạ” là động thái hành Thủy (phát tán, thanh lý,đối phó…)


Lượng hóa cho mỗi Can (trong 10 Can) bằng ký tự số đếm thập phân: từ số 0 (zéro) rồi tiếp theo 1, 2, 3, …

Posted Image

Bước 2 (Bảng :(
Lượng hóa cơ chế tam phân của lưỡng nghi Âm - Dương:
* 3 phân nghi âm: Thiếu âm, Quyết âm, Thái âm
* 3 phân nghi dương: Thiếu dương, Dương minh, Thái dương cũng bằng ký tự số đếm thập phân (0, 1, 2, 3…)

Posted Image

Bước 3 (Bảng C)

Lượng hóa cho mỗi chi ( trong 12 chi ) phân phối theo trình tự cơ chế 3 phân của Âm Dương:
- Từ Tý đến Tỵ thuộc nghi Dương, từ Ngọ dến Hợi thuộc nghi Âm, cùng ra ký tự số đếm hệ thập phân ( 0, 1, 2, 3…)


Posted Image

Đây là bảng tổng hợp tất cả số đếm của mỗi Can + Chi (gọi là “nạp âm” Can Chi – NÂCC): chuyển đổi ra ký tự số thập phân ( 0, 1, 2, 3…)

Thí dụ 1: Nạp âm Tân Mão có số ký tự :
* Can Tân là 3 (theo bảng A)
* Chi Mão là 1 (theo bảng C)
═> NÂCC “Tân Mão” = 3+1 = 4
Thí dụ 2: nạp âm Qúi Hợi = 4 (bảng A) + 2 (bảng C) = 6

Posted Image


Vì hệ ngũ âm nhạc lý cổ chỉ vận hành từ ký tự 0 (zéro) đến 4 (tức là nhịp 5), nên số đếm của nạp âm Can Chi (NÂCC) ở bảng E cũng chỉ sử dụng nhịp 5 (từ 0 đến 4),
do đó nếu nạp âm Can Chi có ký tự 5 hoặc ký tự 6 , ta làm phép trừ cho 5 để tìm số dư (là số còn lại sau phép tính trừ) và lấy số dư này làm ký tự cho hành ngọn (hóa) theo bảng D;
Thí dụ 1 : * nạp âm Canh Thìn (theo bảng E) có ký tự 5; ta có số dư: 5 - 5 = 0
═> Canh Thìn hành Kim (theo bảng D)
Thí dụ 2 : * nạp âm Nhâm Tuất (theo bảng E) có ký tự 6; ta có số dư: 6 - 5 = 1
═> Nhâm Tuất hành Thủy (theo bảng D)
Toàn bộ ngũ hành của lục thập hoa giáp như sau :

Posted Image


Đổi năm âm lịch ra hành khí (mệnh):

Quy ước:

1. Thiên Can:

Giáp - Ất = 1
Bính - Đinh = 2
Mậu - Kỷ =3
Canh - Tân = 4
Nhâm - Quý = 5

2. Địa chi:

Tý - Sửu = 1
Dần - Mão = 2
Thìn - Tị = 3
Ngọ - Mùi = 1
Thân - Dậu = 2
Tuất - Hợi = 3

c. Hành khí theo chiều ngũ hành tương khắc:

Thủy = 4; Hỏa = 3; Kim = 2; Mộc = 1; Thổ = 0

Từ đó ta có:

+ Thiên Can + Địa chi = nhỏ hơn 5 = Thiên can + Địa chi
+ Thiên Can + Địa chi = lớn hơn 5 = ( Thiên can + Địa chi ) - 5

Một cây kim, ta có thể cứu được mạng người

Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-tế săn sóc.



Khi bệnh nhân nằm đó, hãy thử xem người này có đúng là bị đột quỵ (tai biến mạch máu não, xuất huyết não) hay không, bằng ba cách :

- Bảo người đó cười.
- Bảo người đó nói, hoặc nói theo một câu ngắn
- Bảo người đó giơ tay lên.

Nếu người bệnh không làm được 3 điều đó, thì đúng là bị bệnh đột quỵ.

Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên y tế săn sóc.

Chỉ cần một ống tim thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke). Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng và hữu hiêu. Chúng ta chỉ cần vài phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.

Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.

Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng cuống quít. Ðiều quan trọng nhất là ÐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc “rút máu.”

Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gút, cũng có thể giúp chúng ta được.

1- Trước hết chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa(bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.

2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly(milimetre).

3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.

4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.

5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.

6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lỗ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.

7- Chích vào dái tai (ear lobe) hai mũi kim mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện.

Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bi vỡ ra.

Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì. Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt đời. Ðó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đỡ những nạn nhân của căn bệnh quái ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.

Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.

NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN DẪN ĐẾN TBMMN

1- Nguyên nhân:


- Những người bị cao huyết áp.
- Xơ vữa động mạch: Thường ở những người béo mập, những người nghiện bia, rượu, hút thuốc lá...
- Những người bị các bệnh về tim, mạch (hẹp, hở van tim, van động mạch chủ, động mạch phổi...)

2- Điều kiện (còn gọi là nguyên nhân tức thời để TBMMN dễ xảy ra)

- Tình trạng thần kinh căng thẳng (tức giận, lo âu, buồn vui quá độ...)
- Say bia, say rượu, say thuốc lá.
- Nhiễm lạnh đột ngột (khi tắm, bị gió lùa).

NHỮNG DẤU HIỆU BÁO TRƯỚC KHI BỊ TBMMN

- Nhức đầu: Đây là dấu hiệu thường có nhất, hay xuất hiện về đêm, nhức nửa đầu (thường ở bên sẽ bị tổn thương). Cơn nhức đầu có thể thoáng qua hoặc kéo dài.

- Chóng mặt, ù tai, buồn nôn, nhiều khi bị xung huyết ở vùng mặt (bầm tím).

- Rối loạn ngôn ngữ: Nói khó, nói ngọng, không hiểu lời.

- Tê bì hoặc dị cảm nửa người (bên sẽ bị liệt).

- Thoáng mất ý thức, thoáng quên, thoáng điếc, thoáng ngất.

Tất cả những dấu hiệu trên có thể chỉ thoáng qua rồi mất cho nên người bệnh không lưu ý. Nhưng có khi ngay sau đó người bệnh rơi vào tình trạng TBMMN (hôn mê).

NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA TBMMN

1- Nếu nặng

Tự nhiên bệnh nhân bị sây sẩm mặt mày rồi ngã vật ra, mê man bất tỉnh, thở khò khè. Liệt nửa người, ỉa đái dầm dề. Những trường hợp này rất nặng, dễ dẫn đến tử vong sau ít giờ.

2- Nếu nhẹ

Bệnh nhân cảm thấy nói khó, tê bì nửa người, tay chân khó vận động và dần dần không thể chủ động được nữa, tình trạng tinh thần vẫn còn tỉnh táo. Bệnh có thể dừng ở đây rồi phục hồi dần dần. Song nhiều khi trở thành nặng như trên.