Bài 108

CỔ QUÁI-BIẾN

(233, tr. 517-8)

Trong bài kỳ 71 ta đã làm quen với quái-biến. Tuy nhiên, chính quái-biến cuả Vũ-Thức Như-Ngọc (314) đã dẫn đến ý-niệm tân-kỳ về quát. Bây giờ xin xét đến Cổ Quái Biến cuả thời-kỳ Tiên Tần Hán.

Hệ-Hạ VII/1 nói: "Dich chi vi thư dã bất khả viễn, vi đạo dã lũ thiên, biến-động bất cư, chu-lưu lục-hư, thượng hạ vô-thường, cương-nhu tương dịch, bất khả vi điển-yếu, duy biến sở thích = Dịch là một quyển sách không thể xa lià âm-dương vật-tượng được. Đạo Dịch thường đổi dời, biến-động chứ không ở yên, đi vòng quanh sáu cõi, trên dưới không thường, cứng mềm đắp đổi, chẳng nên dùng làm điển-yếu, chỉ biết biến-hoá bằng thích".

Trong Quách-thị Truyền-gia Dịch-thuyết (406), Bạch-vân Quách-Ung nói: "Đạo Dịch thay đổi nhiều lần mà biến-động, không cứ chỉ chu-lưu trong sáu hào, hoặc lấy hạ mà thăng thượng, hoặc lấy thượng mà giáng hạ, để cương thế chỗ nhu, để nhu thế chỗ cương, không thể câu nệ vào đạo thường. Chỉ có biến bằng thích mà thôi. Đó chính là Dịch Đạo".

Trong Hán Thượng Dịch-truyện (321), Chu Chấn nói: "Tụng Thoán bảo: cương lại mà được trung. Tùy Thoán bảo: cương lại mà đi xuống nhu. Cổ Thoán bảo: cương đi lên mà nhu đi xuống. Phệ-hạp Thoán nói: cương nhu phân-động mà sáng. Bí Thoán nói: nhu lại mà văn-minh, cương phân cương, cuơng đi lên rồi đi xuống nhu. Vô-võng Thoán nói: cương từ ngoài lại mà làm chủ bên trong. Đại-súc Thoán nói: cương đi lên mà chuộng hiền. Hàm Thoán nói: nhu đi lên mà cương đi xuống. Tổn Thoán nói: tổn trên, ích dưới. Lại nói: tổn cương, ích nhu. Ích Thoán nói: tổn trên, ích dưới. Lại nói: từ trên đi xuống dưới. Hoán Thoán nói: cương lại mà khôn cùng, nhu được ngôi nơi ngoài mà đi lên ngang hàng. Tiết Thoán nói: cương nhu phân, mà cương dương trung. Cương là hào dương vậy. Nhu là hào âm vậy. Hào cương nhu, hoặc gọi là lại, hoặc gọi là phân, hoặc gọi là đi lên, hoặc gọi là đi xuống, duy chỉ có biến để thích-hợp. Điều đó họ Ngu xét thuyết mà Cảnh-Quân, Phục Mạn-Dung, Thục-Tài, Lý Chi Tài, bảo là từ quẻ nào lại".

Tô Đông-pha (1036-1101) (409) nói: "Phàm cái mà Dịch gọi là cương nhu đều bắt gốc từ hai quẻ Kiền-Khôn. Kiền thi-hành nhất dương nơi Khôn nhất âm để sinh ra ba quẻ nam chấn-khảm-cấn, đều là nhất dương mà hai âm. Phàm ba quẻ con, có nói cương lại mà sáng suả quả là gốc nơi Khôn, nhờ Kiền lại để hoá. Khôn thực thi nhất âm nơi Kiền để hoá hào này mà sinh ra ba quẻ nữ tốn-ly-đoài, đều là 1 âm mà 2 dương. Phàm ba quẻ nữ, có nói nhu lại mà sáng. Điều đó gốc ở Kiền mà khôn lại để hoá".

Đông-cốc Trịnh Nhữ-Hài nói: "Dịch bắt đầu bằng vẽ vạch, và từ kiền-khôn suy ra bát-quái. Kiền-khôn biến cực. Bát-quái là do kiền-khôn sinh ra, ắt sáu-tư biệt-quái là do bát-quái sinh ra. Đó là bản chỉ làm ra Dịch. Người truyền Dịch sợ thuyết này quá thác-giản, nên mới đặt ra các thuyết hỗ-thể, quái-biến. Lại nói kiền-khôn là đại-phụ-mẫu, Phục-Cấu là tiểu-phụ-mẫu. Ôi! phụ-mẫu 10, làm sao phân-biệt được lớn nhỏ".

Án: Tham-đồng-khế : "Kiền-khôn là cửa ngõ cuả Dịch. Là cha mẹ cuả chúng quái, vì chúng quái đều do kiền-khôn sinh ra." Trong Tiên-thiên-học cuả Lý Đỉnh Chi và Thiệu-tử, quái-đồ đều do Phục, Cấu, Lâm, Độn, Thái, Bĩ, Đại-tráng, Quan sinh ra, điều này cho ta thấy rõ xuất-xứ là Tham-đồng-khế. Hơn nữa, thuyết cuả họ Lý, họ Thiệu không những đánh mất đích-truyền cuả Trần-Đoàn, mà còn mất luôn cả ý-chỉ cuả Thoán-truyện nữa.

Thoán-truyện nói: "Thái, nhỏ đi mà lớn lại, ắt hanh, ắt là trời đất giao mà muôn vật thông. Trên dưới giao mà thửa chí giống. Trong dương mà ngoài âm, trong kiện mà ngoài thuận, trong quân-tử mà ngoài tiểu-nhân. Đạo quân-tử tăng-trưởng, đạo tiểu-nhân tiêu tan. Bĩ là thời-đại không có đạo làm người, người quân-tử trinh-chính thì không lợi, cái lớn đi, cái nhỏ lại, ắt là trời đất không giao mà muôn vật không thông. Trên dưới không giao mà trời đất vô-bang. Trong âm mà ngoài dương, trong nhu mà ngoài cương, trong tiểu-nhân mà ngoài ngụy-quân-tử. Đạo tiểu-nhân tăng-trưởng, đạo quân-tử tiêu tan".

Trong Tượng-số-luận, Lệ-châu Hoàng Tông-Hi (1610-1695) nói: "Thuyết quái-biến bắt nguồn từ 'nhỏ đi, lớn lại', 'lớn đi, nhỏ lại' cuả hai quẻ Thái-Bĩ, mà phần nhiều Thoán-truyện cuả Phu-tử đã phát-minh quái-nghiã. Cho nên đó là một đại-tiết-mục của Dịch vậy. Thượng-Kinh 30 quẻ, phản-đối 12 cặp, Hạ-Kinh 34 quẻ, phản-đối 16 cặp. Kiền, Khôn, Di, Đại-quá, Khảm, Ly, Trung-phu, Tiểu-quá không phản-đối được, ắt đảo thửa chẵn lẻ để tương-phối quái-thể. Phản-hào từng đôi một cũng tùy quẻ mà biến, ngoảnh lại đó, ắt cát ở đó, ắt hung ở kia, đáng vị ở đó, không đáng vị ở kia. Nhờ vào phản-đối mà hiểu lẽ vãng lai ỷ-phục, đó chính là điều ta gọi là 'nắm vững hai đầu' vậy. Thi-hành thì có giữ vững không làm xằng, phản thì có cái dụng cuả thiên-xung, thời-cơ thì có hội-ngộ phong-hanh, phản thì có nỗi buồn cuả ky-lữ (ở trọ). Không phải là quẻ này sinh ra quẻ kia. Lại cũng không phải là hào này tráo chỗ với hào kia".

Án: Hệ-Thượng X/1 nói: "Dịch có bốn điều là đạo cuả thánh-nhân: về ngôn-ngữ thì chuộng lời, về hoạt-động thì chuộng biến-hoá, về sự chế đồ dùng thì chuộng hình-tượng, về bói toán thì chuộng lời đoán". Biến cư nhất sao? Dịch cùng ắt biến, biến ắt thông, thông ắt lâu bền. Biến là đại-nghiã trong Dịch. Xem lời Khổng-tử nói: "Trên dưới vô-thường, cúng mềm đắp đổi, trong dương mà ngoài âm, trong nhu mà ngoài cương, ắt phàm trong Thoán-truyện cương-nhu vãng lai, trên dưới trong ngoài đều chủ quái-biến, mà lời có thể hiểu được". Như vậy chư nho đại-khái lấy một hào làm duyên-cớ, chỉ có quẻ 3 hào âm, 3 hào dương là có thể thông, còn quẻ 2 hào âm, 2 hào dương không thể thông được. Vô-võng, cương từ ngoài lại, thăng lên nhu dùng thời-thăng. Chỉ lấy phản-đối mà nói, ắt chẳng thể thông được. Cho nên, quẻ có thể bao quát hào mà hào không thể bao hàm quẻ được. Quẻ biến ắt hào tùy tùng mà động. Khôn sách kiền, được chấn-khảm-cấn, lấy một hào cương làm chủ. Kiền sách khôn, được tốn-ly-đoài, lấy một hào nhu làm chủ. Thoán-truyện xưng là cương-nhu, hoăc chỉ quẻ, hoặc chỉ hào, tùy văn dựng nghiã, được đấy. Đại-để tam âm, tam dương, Thái-Bĩ phần nhiều lấy quẻ mà nói, kỳ dư đều lấy hào mà nói. Hai hào âm, hai hào dương, ắt là đạo trời đất lấy hào mà nói. Như vậy, thửa sở-chủ là một cương cuả quẻ dương, một nhu cuả quẻ âm vậy.

KẾT NGÔN

Kinh Dịch là gì? Kinh Dịch là quẻ, Thoán, hào kèm theo Thập Dực cuả Khổng-tử. Nghiệp tư bốn Thánh, đời trải Tam-cổ, nghiã là không phải là cuả riêng ai, cuả riêng đều là giao-hỗ, thác tổng, khác với Kinh Thư phân thành Ngu, Hạ, Thương, Chu, hoặc Kinh Thi phân thành Phong, Nhã, Tụng, khác với Kinh Xuân Thu phân thành 12 Công, nên chi là đầu mối cuả Thượng-Kinh. Khảm-ly là âm-dương đã thành chất, nên kết-thúc Hạ–Kinh. Không những chỉ có thế. Xem một Thiên Tự-quái-truyện mới thấy thứ-tự 64 quẻ không thể thay đổi được. Cho nên không đọc Toàn Kinh thì không thể nào hiểu nổi Dịch. Quẻ để biểu-thị tượng, hào để biểu-thị biến, quẻ hào hợp nhất, phân hai, quẻ thủ tượng, bàng-thông tương-thác. Kiền với khôn là bàng-thông, mà Bĩ-Thái là kiền-khôn tương-thác. Khảm với ly là bàng-thông, mà Ký-tế, Vị-tế là khảm-ly tương-thác. Phàm tương-thác, nghiã quẻ mỗi mỗi hỗ-chứng. Hào biến-động ở vị: đáng vị ắt cát, thất đạo ắt hung. Đáng vị là gì? Đáng vị là nhị-ngũ đi trước, sơ-tứ, tam-thượng theo sau để ứng. Tỷ như hai quẻ Kiền-Khôn, nhị sang ngũ, Kiền là Đồng-nhân, Khôn là Tỷ. Tứ sang sơ, Kiền là Gia-nhân, Khôn là Truân. Thượng sang tam, Kiền là Cách, Khôn là Kiển. Ấy gọi là đáng vị. Thất-đạo là gì? Không chờ nhị-ngũ đi, mà sơ-tứ, tam-thượng lại đi trước. Như hai quẻ Kiền-Khôn, nhị-ngũ chưa đi, tứ sang sơ, Kiền là Tiểu-súc, Khôn là Phục. Thượng sang tam, Kiền là Nhu, Khôn là Minh-di. Cho nên, thất-đạo. Bởi vậy, không thông 64 quẻ, không hiểu được quẻ nào cả. Không thông 384 hào, không hiểu được hào nào cả. Sở dĩ nghiên-cứu bản thân Kinh Dịch, nên thống-độc toàn thư mà nghiền ngẫm cho có thống-hệ, đồng thời theo sát phương-pháp khoa-học. Ngay từ đầu, nên tổng-quan toàn thể các ngôn-từ, chứ không nên đi ngay vào chi-tiết vội.

Đáng Vị Thất Đạo

Nhị-ngũ

Tứ-sơ

Thượng-tam

Tứ-sơ

Thượng-tam

A M

A e

A q

Q I

A E

B H

B C

B g

B X

B d

BÀI TẬP

Trong mỗi ô, điền vào chỗ trống bên phải mỗi quẻ đơn chiếc.

Đáng Vị Thất Đạo

Nhị-ngũ

Tứ-sơ

Thượng-tam

Tứ-sơ

Thượng-tam

K d

K

K

K

K

L H

L

L

L

L


THƯ TỊCH KHẢO (CHƯƠNG 08)

003 Hán Thư 漢書, Ban Cố 班固 soạn, do An Bình Thu 安平秋 & Trương Truyền Tỷ 張傳璽 Chủ-biên in Nhị Thập Tứ Sử Toàn Dịch 二十四史全譯, do Hứa Gia Lộ 許嘉璐 Chủ-biên, Toàn 3 Sách, Đệ-nhất-bản, Hán-Ngữ Đại-Từ-Điển Xuất-bản-xã, Thượng-hải, Tháng 1-2004.

006 Tân Dịch Hoài-Nam-tử 新譯淮南子, Hùng Lễ Hối 熊禮匯 chú-dịch, Hầu Nãi Tuệ 候迺慧 hiệu-duyệt, 2 Tập, Tam-dân Thư-cục, Đài-bắc, 1997.

007 Tân Dịch Quốc-ngữ Độc-bản 新譯國語讀本, Dịch Trung Thiên 易中天 chú-thích, Hầu Nãi Tuệ 侯迺慧 hiệu duyệt, Tam Dân Thư-cục, Đài-bắc, 1995.

019 Hậu-Hán-Thư 後漢書, Phạm-Diệp 范嘩 soạn , do Hứa Gia-Lộ 許嘉璐 chủ-biên in Nhị Thập Tứ Sử Toàn Dịch 二十四史全譯, do Hứa Gia Lộ 許嘉璐 Chủ-biên, Toàn 3 Sách, Đệ-nhất-bản, Hán-Ngữ Đại-Từ-Điển Xuất-bản-xã, Thượng-hải, Tháng 1-2004.

022 Hoàng-Cực Kinh-Thế Thư-Truyện 皇極經世書傳, 8 quyển, Tống Tam Xuyên Thiệu Ung Nghiêu-phu 三川邵雍堯夫 soạn, Áo-châu Hoàng Kỳ 奧洲黃畿 tông-đại-truyện, Nam Tá Thái Tuyền hiệu 男佐泰泉校, Mạnh-hạ Ất-mùi trùng-hiệu, Trung-hoa Thư-cục ảnh-ấn.

027 Tam-Dịch Bị-di 三易備遺, Tống Chu Nguyên-Thăng 朱元昇 soạn, Khang-hi Nguyên-san bản, 1680.

045 Sử Ký 史記, Hán è Tư-mã Thiên 司馬遷soạn, Tống è Bùi Nhân tập-giải, Đường è Tư-mã Trinh 司馬真sách-ẩn, Đường è Trương Thủ Tiết 張守節chính-nghĩa, Hoằng-nghiệp Thư-cục tái-bản, Đài-bắc, 15.04.1995.

078 Thi Kinh Kim Chú 詩經今注, Mao Hanh 毛亨 chú, Trịnh Huyền 鄭玄tiên, Khổng Dĩnh Đạt 孔穎達sớ, Cao Hanh 高亨kim-chú, Thượng-hải Cổ-tịch xuất-bản-xã, nhị-thứ ấn-loát, tháng 8-1982.

248 Dịch Đồ Lược 易圖略, Tiêu-Tuần 焦循 (1763-1820) soạn, in Hoàng-Thanh Kinh-Giải Dịch-Loại Vựng Biên 皇清經解易類 (tr. 1161-1217), Nghệ-văn Ấn-thư-quán, Đài-bắc.

257 Xuân Thu Tam Truyện 春秋三傳, 3 Quyển, Khổng-tử niên-soạn, bản dịch của Ân-sư, Cụ Sơn-mai Hoàng Khôi (1905-1970), Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo-dục, Sài-gòn, 1969-1971.

268 Học Dịch Bút-đàm 學易筆談, 2 Tập, Hàng Tân Trai杭辛齋 (1869-1924) trước, in Hàng-thị Dịch-học Thất Chủng杭氏易學七種 (Tập Thượng, tr. 251-446; Tập Hạ, tr. 449-651), Chu-dịch Công-tác-thất điểm-hiệu, Cửu-châu Xuất-bản-xã, Bắc-kinh, Tháng 1-2005.

274 Tiên Tần Hán Ngụy Dịch Lệ Thuật Bình 先秦漢魏易例述評, Tái-bản, Khuất Vạn Lý 屈萬里 trước, Học-sinh Thư-cục, Đài-loan, Tháng 3-1975.

278 Chu Dịch Chiết Trung 周易折中, Tái-bản, Thượng Hạ Tập, Thanh è Đại-học-sĩ Lý Quang-Địa 李光地 toản, Chân Thiện Mỹ, Đài-bắc, Tháng 7-1981.

280 Xuân Thu Phiền-Lộ Nghĩa Chứng 春秋繁露義證, Nhất bản, Tây-Hán è Đổng Trọng-Thư 董仲舒(179?-104 BC) nguyên-tác, Tô Dư 蘇輿 sọan, Chung Triết 鐘哲 điểm-hiệu, Trung-Hoa Thư-cục, Bắc-kinh, Tháng 12-1992.

290 Trung-Dung, Khổng-Cấp nguyên-tác, Chu-Hi tập-chú, Bản Việt-dịch của Cụ Cử Hồng-liên Lê-Xuân-Giáo, Trung-tâm Học-liệu Bộ Giáo-dục, Sài-gòn, 1972.

277 Tam-Dich Đỗng-Ky 三易, Minh è Hoàng Đạo Chu 黃道周 soạn, in Thuật-số Tùng-thư 15, Nhất-bản, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 7-1995.

280 Xuân Thu Phiền-Lộ Nghĩa Chứng 春秋繁露義證, Nhất bản, Tây-Hán è Đổng Trọng-Thư 董仲舒 (179?-104 BC) nguyên-tác, Tô Dư 蘇輿 sọan, Chung Triết 鐘哲 điểm-hiệu, Trung-Hoa Thư-cục, Bắc-kinh, Tháng 12-1992.

308 ¢ Trang-tử Nam-Hoa-Kinh (Nội, Ngoại và Tạp-Thiên), Thu Giang Nguyễn-Duy-Cần dịch và bình-chú, Khai-Trí, Sài-gòn, 1962.

309 Tân-thích Trang-tử Độc-bản新譯讀本, Hoàng Cẩm-Hoành 鋐錦 chú-dịch,

Tam-dân Thư-cục, Đài-bắc, tháng 11-1997.

314 Ngũ-phong Sơn-phòng Dịch-học 五峰山房易學, Sơ-bản, Thức-như Vũ-Ngọc 式如武鈺 trước, Tân-văn-phong, Đài-bắc, Tháng 10-1979.

316 Chu-Dịch Dữ Nho, Đạo, Mặc 周易與儒道墨, Sơ-bản, Trương Lập-Văn 張立文 trước, Đông-đại Đồ-thư Công-ty xuất-bản, Vụ-phong, Đài-bắc, Tháng 11-1991.

319 Dịch-học Tân-luận 易學新論, Đài tam-bản, Nghiêm Linh-Phong 嚴靈峰 biên-trước, Chính-trung Thư-cục, Đài-bắc, Tháng 11-1976.

321 Hán Thượng Dịch-Truyện 漢上易傳 (11 Q), phụ Quái-đồ 卦圖 (3 Q), Tùng-thuyết 叢說 (1 Q), Tống Chu Chấn 朱震 soạn, Thông-chí-đường Kinh-giải Bản.

324 Luận-Ngữ 論語 , Dịch-giả Lê Phục-Thiện, Nhà xuất-bản Văn-học, Sài-gòn, Tháng 3-1992.

409 Đông-Pha Tiên-sinh Dịch-truyện 坡先生易傳, Tống Tô-Thức 蘇軾 soạn, Lưỡng Tô Kinh-giải Bản, 1597.

Nguyễn Tuân


Sự tiến bộ của bất cứ một cuộc cách mạng nào cũng được thể hiện ở một lý tưởng tiến bộ, ở sự tham gia của nhân dân và sức cuốn hút đối với đội ngũ tri thức.





Nguyễn Tuân thời trẻ.








Từ trái sang phải: Ngô Tất Tố, Nguyễn Xuân Sanh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Tuân: những văn nghệ sĩ hàng đầu của Văn học Cách mạng.







Quy định mới về bảo hiểm y tế tai nạn giao thông

Liên Bộ Y tế và Tài chính vừa ban hành Thông tư liên tịch số 39/2011 hướng dẫn thủ tục thanh toán chi phí khám, chữa bệnh đối với người tham gia bảo hiểm y tế bị tai nạn giao thông.

Theo đó, từ ngày 26-12 tới, tất cả các trường hợp bị tai nạn giao thông, vào viện, không phải tự đi xin giấy xác nhận có vi phạm pháp luật về giao thông hay không.

Thông tư mới của liên bộ Y tế và Tài chính quy định: Các trường hợp tai nạn giao thông, vào viện, khi chưa xác định được tình trạng vi phạm pháp luật thì đều được thanh toán bảo hiểm. Trong vòng 2 ngày sau đó, cơ quan Bảo hiểm xã hội có trách nhiệm gửi văn bản đến Cảnh sát giao thông hoặc Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội nơi xảy ra vụ tai nạn đề nghị xác minh hành vi của người bị tai nạn giao thông. Nếu sau 3 tháng mà không xác minh được, thì cơ quan Bảo hiểm xã hội phải thanh toán bảo hiểm y tế như đối với trường hợp không vi phạm.

Ngược lại, trong 3 tháng, nếu có đủ căn cứ xác định người bị tai nạn vi phạm pháp luật về giao thông thì có 3 hướng giải quyết. Thứ nhất, nếu người bị tai nạn còn đang điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thì cơ quan Bảo hiểm xã hội thông báo trực tiếp cho phía người bị tai nạn biết và không thanh toán bảo hiểm y tế. Thứ 2, trường hợp người bị tai nạn tử vong thì không thu hồi số tiền mà quỹ Bảo hiểm y tế đã thanh toán. Thứ 3, nếu người bị tai nạn đã ra viện thì cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện thu hồi số tiền đã chi trả. Nếu không thu hồi được thì kết thúc năm tài chính, Bảo hiểm xã hội Việt Nam tổng hợp các trường hợp để Bộ Y tế và Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ cho phép quyết toán vào quỹ bảo hiểm y tế.

Ngoài ra, Thông tư mới cũng quy định những trường hợp dưới 14 tuổi và từ 80 tuổi trở lên khi bị tai nạn giao thông, vào viện, được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định mà không phải xác định hành vi vi phạm pháp luật về giao thông

Thông tư mới này thay thế Thông tư 09/2009 của liên Bộ Y tế và Tài chính vì Thông tư 09 có những điểm không rõ ràng và bất hợp lý, nhiều lần bị Bộ Tư pháp yêu cầu sửa đổi.

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/7/24/24/166818/Default.aspx

Luật để làm gì?

Tuần qua, dư luận xôn xao về đề xuất xây dựng Luật Nhà văn với hầu như tất cả ý kiến cho rằng một dự luật như thế là không cần thiết trong bối cảnh có rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần luật hóa hơn nhiều.

Thật ra, đằng sau một đề xuất như thế còn nổi lên một vấn đề quan trọng khác: chúng ta xây dựng luật là để điều chỉnh các mối lợi ích để tiến đến một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh hay luật nhằm mục đích phục vụ lợi ích nhóm?

Để dễ hình dung, chúng ta hãy lấy vấn đề bảo hiểm y tế để minh họa. Thời báo KTSG số ra tuần rồi (ngày 3-11-2011) đăng bài “Người nghèo ít được hưởng lợi từ bảo hiểm y tế” cung cấp nhiều con số cho thấy đã có sự chênh lệch rất lớn giữa việc thụ hưởng quyền lợi từ bảo hiểm y tế giữa người nghèo và người giàu, giữa nông thôn và thành thị. Người dân vùng khó khăn chỉ được đi khám, chữa bệnh tại y tế cơ sở và được chi trả khoảng vài trăm ngàn đồng cho những lần khám chữa bệnh. Trong khi đó, tại các thành phố, số tiền chi trả cho người tham gia bảo hiểm y tế có thể lên tới vài trăm triệu đồng, chẳng khác nào “nhà nghèo đóng tiền khám bệnh cho nhà giàu”.

Đó là một thực tế. Nếu một đại biểu Quốc hội nào đó thấy không thể kéo dài tình trạng trên bèn suy nghĩ phải xây dựng một đạo luật mới hay chỉnh sửa đạo luật cũ sao cho việc thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm y tế được công bằng hơn. Các chuyên gia luật pháp sẽ giúp soạn thảo đề án luật thể hiện được tinh thần này - một công việc không phải dễ dàng gì. Dự luật được đưa ra thảo luận, các đại biểu gần gũi với quyền lợi của những bệnh viện từng hưởng quyền lợi cao trong bảo hiểm y tế sẽ phản đối nhưng đa số đại biểu vì quyền lợi của cử tri sẽ thông qua dự luật. Một vấn đề xã hội được giải quyết. Xã hội tiến gần hơn mục tiêu công bằng thêm một chút nữa.

Tinh thần làm luật là như vậy chứ luật không phải được làm ra để tạo điều kiện cho bất kỳ một ai hưởng được những ưu đãi, những đặc quyền hay trao cho một nhóm người nào đó sự thuận tiện so với nhóm người khác. Nếu luật nhằm tạo sự thuận tiện cho chính quyền trong việc quản lý cũng không đúng với tinh thần luật là nhằm ngăn ngừa sự bất công.

Trong bối cảnh đó, dự án Luật Nhà văn nên bị bác bỏ khỏi chương trình làm luật của Quốc hội vì lý do gì? Nếu nó được dùng để điều chỉnh lợi ích của nhà văn thì đã có những sắc luật khác chi phối như Luật Sở hữu trí tuệ trong đó có quyền tác giả, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Lao động, các quy định về hợp đồng… Ngược lại, nếu nó được dùng để chi phối hoạt động sáng tác của nhà văn thì đúng là nó phục vụ cho lợi ích của Hội Nhà văn trong công việc “quản lý” của họ nên đáng bị phê phán, châm biếm. Nếu chỉ vì muốn kiểm soát việc nhà văn viết hồi ký, tránh chuyện gây tranh cãi nhà văn này bóp méo sự thật, nhà văn kia bịa chuyện, xuyên tạc mà cất công trình dự án luật thì đúng là chuyện tầm phào.

Nhìn rộng hơn một chút, chúng ta sẽ thấy những sáng kiến đề xuất xây dựng luật theo kiểu đó ngày càng xuất hiện nhiều. Chúng sẽ không dễ bị phản bác như Luật Nhà văn đâu - bởi chúng cũng sẽ xuất phát từ lợi ích nhưng lợi ích của nhóm đông hơn, tiếng nói mạnh hơn. Từ chuyện sát sườn như hạn chế ô tô hay hạn chế xe máy đến chuyện khó thấy hơn như ưu tiên cho thủy điện hay ưu tiên cho bảo vệ rừng. Người đại biểu sẽ bị đặt vào những tình huống khó xử hơn khi phải cân nhắc hài hòa lợi ích của các nhóm dân cư. Nhưng sự phân vân của họ sẽ chấm dứt khi họ quyết định dựa trên nền tảng - luật pháp là nhằm phục vụ cho sự công bằng của xã hội khi loại trừ được sự bất công và lạm quyền.

Nguyễn Vạn Phú
http://www.nguoiduatin.vn/luat-de-lam-gi-a19521.html

Triết lý của một người giàu

Tôi vốn rất ngại những danh hiệu mà thời nay nhiều người mang trên mình như một thứ trang sức! Nhưng, khi trò chuyện với ông, nghe ông kiến giải những vấn đề về văn hóa, về con người, về kỹ nghệ đúc vàng, về những cuốn sách mà ông đã đọc …Nhất là khi xem kỹ tập “ Thơ và luận” mà ông tặng tôi, quả thực, tôi đã có một cách nhìn khác về những doanh nhân, những người giàu như ông.

Tấm danh thiếp mà ông đưa cho tôi có ghi: Vũ Minh Châu. - Tổng giám đốc; Doanh nhân văn hóa; Nghệ nhân quốc gia.

“Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử; Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi”
(Nguyễn bỉnh Khiêm).
“ Trong tay đã sẵn đồng tiền, dù cho đổi trắng, thay đen khó gì”
( Đại thi hào Nguyễn DU ).
“Có tiền việc ấy mà xong nhỉ ? Đời trước làm quan cũng thế a”
(Tam nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến ).
Còn bây giờ dân gian luận về đồng tiền như sau:
“Tiền là tiên là phật, là sức bật của tuổi trẻ, là sức khỏe của tuổi già vv …”.

“ Kiếm tiền khó hơn tiêu tiền
Nhưng, người biết tiêu tiền ít hơn người biết kiếm tiền”.
“ Tiền ở trong két là tiền của người ta
Tiền tiêu đi mới là tiền của mình” (Trích THƠ VÀ LUẬN ).

“ Giàu quá hóa nghèo
Người thông minh biết làm giàu tới mức cần thiết”.
“ Người giàu nhất hành tinh cũng không đủ mọi thứ
Ai nghèo nhất thế giới cũng không thiếu tất cả”
“ Giàu mà không chia sẻ là có tội”
“ Người giàu đạo đức tài năng
Như một cây sâm đến tuổi càng quý”
“ Người giàu không tính bằng số tiền ở lại
Mà được tính bằng số tiền tiêu đi có ích”

“Người biết cho, càng cho, càng được
Kẻ vụng nhận, càng nhận, càng mất”.
“ Đi bằng lời nói nhanh hơn đi bằng đôi chân”
“ Học để biết học tiếp”
“ Lẽ phải thuộc về người mang lại quyền lợi cho mình”
“ Người ta có thể đổi tất cả để lấy sức khỏe
Chứ không phải đổi sức khỏe để lấy tất cả’’
“ Hoa đẹp thì đáng yêu
Người đẹp thì nên tránh”


http://tamnhin.net/Guong-mat--Phong-cach/16730/Triet-ly-cua-mot-nguoi-giau-Tien-khong-phai-la-tat-ca-.html




Sự thật về ngày “Tam trùng” với lịch cổ của người Maya

Một số người chỉ nghĩ ngày thứ Sáu (11/11/2011) chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên không tránh khỏi, song nhiều người lại cho rằng, theo người Maya cổ đại thì đó là tín hiệu liên kết tâm linh với sự chết chóc và đổi mới tinh thần.

Xung quanh ngày "Tam trùng" – 11/11/2011 (ngày, tháng, năm trùng) có nhiều quan niệm khác nhau. Song có lẽ câu chuyện hấp dẫn nhất về ngày này là liên quan tới lời tiên tri của người Maya vào năm 2012.

Lịch đếm của người Maya cổ đại kết thúc cuối cùng sẽ diễn ra vào ngày 21/12/2012. Nhiều người tin rằng vào ngày này sẽ mở ra một kỷ nguyên tinh thần mới, thậm chí là ngày Tận thế.

Một số người tin rằng rất có thể ngày 11/11/2011 có liên quan đến ngày 21/12/2012, khi họ thấy Đài quan sát Hải quân Mỹ đã đặt thời gian chính xác của ngày Đông chí năm 2012 là 11h11 trùng với giờ quốc tế là vào ngày 21/12/2012.


Sự thật về ngày ’Tam trùng’ với lịch cổ của người Maya - Tin180.com (Ảnh 1)
Các nhà khoa học cho biết trùng hợp thời gian chỉ là hiện tượng đồng đại (Ảnh: Livescience)

Đánh giá điều này, John Hoopes, một học giả chuyên nghiên cứu lịch sử Maya tại Đại học Kansas nói với Livescience rằng: "Hiện tượng này chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên, được các nhà khoa học gọi theo khái niệm là Đồng đại. Dựa vào đây nhiều nền văn hóa đã khuếch đại sự Đồng đại lên”.

Việc Đài quan sát Hải quân Mỹ đưa ra thời gian chính thức ngày Đông chí năm 2012, khi độ nghiêng của Trái đất xa nhất với với ánh nắng Mặt trời thì lại trùng hợp vào đúng 11h12 ngày 21/12/2012 càng làm cho một số người tin ngày 11/11/2011 là ngày có sự liên quan tâm linh với tiên đoán của người Maya.

Khuấy động điều này một phần cũng do các tin nhắn, các trang mạng trực tuyến. Cùng với thời gian này thì các thời gian như 12h12, 10h10, 12h34 cũng xuất hiện những tin đồn tương tự.

Song những con số này có thể dường như có một cái gì đó rất đặc biệt với người dân vì nó đã ăn sâu vào tiềm thức của họ. “Mọi người có ấn tượng với giờ 11h11 hơn là 4h29 hoặc 6h53 hoặc là một cái gì đó như thế”, Hoopes cho biết.

Các nhà tâm lý học cho biết, chính sự tò mò này đã đưa người ta tìm kiếm sự trùng hợp với các thứ khác. Một khi coi ngày 11/11/2011 là một con số có ý nghĩa thì có thể tìm thấy sự trùng hợp ở khắp mọi nơi.

Một trang mạng trực tuyến còn cho rằng, Mặt trời đang trong chu kỳ hoạt động mạnh có liên hệ với tiên đoán của người Maya. Song thực tế, các nhà khoa học NASA cho biết, trong năm 2012 Mặt trời chưa gây ra sự nguy hại nào.

“Thực tế người Maya đã theo dõi các chu kỳ lớn của thời gian, và có một chu kỳ lớn thời gian bắt đầu từ năm 3013 trước Công nguyên trên lịch của chúng tôi, và có lý do để nghĩ rằng chu kỳ thời gian lớn có thể diễn ra vào ngày 21 năm 2012”, Hoopes nói.

Theo Hoopes, người Maya có xu hướng xem thời gian theo chu kỳ với sự kiện quan trọng lặp lại vào ngày tương ứng trong một chu kỳ. Cho nên những gì người Maya để lại vẫn là một câu hỏi bí mật.

Lịch của người Maya có nhiều điểm cộng hưởng với ngày nay chỉ đơn giản vì người Maya cổ đại được xem như thuộc về một nền văn hóa kỳ lạ với trí tuệ rất tân tiến. Một thế kỷ trước, người ta cũng tin những điều tương tự xảy ra liên quan đến văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa.


http://tin180.com/khoahoc/ho-so-tu-lieu/20111111/su-that-ve-ngay-tam-trung-voi-lich-co-cua-nguoi-maya.html

Mặt trăng sẽ bị phá hủy vào ngày 8/11 ?





Ảnh chụp của NASA cho thấy đường đi của 2005 YU55 khi nó đi qua Trái đất và Mặt trăng vào ngày 8/11 tới (Ảnh: Livescience)



5 bài tập rèn não mỗi ngày

Việc tự đặt ra những thử thách, kích thích và luyện tập hiệu quả cả 5 nhóm chức năng của bộ não sẽ giúp sống khỏe, minh mẫn ngay cả khi tuổi tác đã nhiều.

Ghi nhớ


Ghi nhớ đóng vai trò thiết yếu hơn cả trong nhóm các chức năng tri giác, nó có trong những việc đọc, lập luận, tính toán.

Để duy trì trí nhớ tốt, bạn cần phải rèn luyện, và điều này đơn giản hơn bạn tưởng: Nghe nhạc rõ ràng là hoạt động rất thú vị, và nếu bạn chọn một bài hát không biết hoặc không nhớ lời, bạn sẽ tự làm tăng lượng acetylcholine, một chất hóa học giúp kiến tạo thêm cho não, nâng cao khả năng ghi nhớ cho não bộ.

Hãy tự tạo ra thử thách cho mình bằng cách tắm hoặc mặc quần áo trong bóng tối, hoặc dùng tay trái đánh răng. Tất cả những hoạt động như vậy sẽ giúp tạo ra những kết nối mới giữa các tế bào thần kinh khác nhau trong bộ não.


Sự tập trung


Khả năng tập trung là yếu tố rất cần thiết gần như trong mọi hoạt động hàng ngày của con người. Biết tập trung tốt sẽ giúp bạn có thể duy trì sự chú ý ngay cả khi xung quanh rất ồn ào và liên tục bị ngắt quãng để hoàn thành nhiều hoạt động trong cùng một thời điểm.

Ta có thể cải thiện năng lực tập trung bằng cách đơn giản là thay đổi những thói quen hàng ngày. Chẳng hạn, bạn có thể thay đổi đường đi tới công ty hay sắp xếp lại bàn làm việc, cả hai cách đó đều sẽ bắt trí óc bạn phải tỉnh táo hơn để thoát khỏi những thói quen.

Khi tuổi tác nhiều hơn, sức chú ý của chúng ta cũng giảm dần, điều này khiến ta dễ bị phân tán hơn và khả năng kết hợp nhiều hoạt động cùng lúc cũng giảm hiệu quả. Bằng cách kết hợp các hoạt động như vừa nghe một cuốn sách nói vừa chạy bộ, hay làm toán trong khi lái xe có thể khiến não bạn hoạt động nhiều hơn trong cùng một thời điểm.


Ngôn ngữ


Các hoạt động ngôn ngữ sẽ buộc chúng ta phải nhận diện, ghi nhớ và hiểu ý nghĩa các từ vựng. Chúng cũng sẽ giúp ta rèn luyện kỹ năng ngữ pháp, sự trôi chảy trong khi nói, viết và tăng lượng từ vựng.

Với bài tập hàng ngày, bạn có thể mở rộng kho từ mới và dễ dàng nhận diện các từ ngữ quen thuộc. Chẳng hạn, nếu bạn chỉ thường xuyên đọc những bản tin thể thao thì bây giờ, hãy thử đọc những bài báo viết về thương mại một cách kỹ lưỡng.

Bạn sẽ tiếp cận với những từ mới, tuy nhiên, chúng sẽ dễ hiểu hơn khi đọc trong một văn cảnh nhất định và thậm chí, nếu bạn chưa hiểu được, bạn có thể tra cứu bằng từ điển. Hãy dành thời gian để hiểu những từ mới đó ngay trong ngữ cảnh văn bản, điều này sẽ giúp bạn xây dựng kỹ năng ngôn ngữ và dễ dàng vận dụng những từ ngữ mới trong cuộc sống hàng ngày cũng như công việc.


Nhận thức thị giác


Chúng ta đang sống trong một thế giới 3 chiều đầy màu sắc. Việc phân tích các thông tin về mặt thị giác là điều cần thiết và có thể được thực hiện ngay trong môi trường sống của bạn.

Để luyện tập chức năng tri giác này, bạn hãy đi vào một căn phòng, chọn tìm 5 đồ vật và ghi nhớ vị trí của chúng. Khi ra khỏi phòng, hãy cố gắng nhớ lại 5 vật đã chọn đó cùng vị trí của chúng. Bạn thấy điều này quá đơn giản ư? Hãy chờ qua 2 giờ đồng hồ sau đó, và nhớ lại những vật này cùng vị trí của chúng.

Hãy nhìn về phía trước và ghi lại mọi điều bạn có thể thấy trước mặt và hai bên tầm nhìn của bạn. Hãy bắt mình nhớ lại mọi điều và ghi ra. Cách làm này sẽ buộc bạn phải sử dụng trí nhớ và rèn luyện cho trí não khả năng tập trung vào những điều xung quanh bạn.


Chức năng hành động


Mặc dù có thể không nhận ra, nhưng bạn đang sử dụng kỹ năng logic và lập luận hàng ngày để đưa ra những quyết định, xây dựng các giả thuyết và xem xét những kết quả có thể diễn ra trong những hành động của mình. Các hoạt động trong đó bạn phải xác định chiến lược để đạt được kết quả mong muốn và tính toán những hành động thích hợp để tìm ra giải pháp trong thời gian ngắn nhất có thể chính là những hoạt động yêu thích bạn làm mỗi ngày, giống như các hoạt động tương tác xã hội và các trò game chẳng hạn.

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với một người bạn có thể kích thích hoạt động trí tuệ vì bạn sẽ phải cân nhắc những lời đối đáp có thể và những kết quả mong muốn. Các trò game đòi hỏi người chơi phải có chiến lược và kỹ năng giải quyết những khó khăn để đạt được mục đích tốt nhất.


Luyện tập trí óc


Cùng với tuổi tác, việc rèn luyện trí óc cũng quan trọng như luyện tập cơ thể. Và bây giờ, bạn đã biết 5 nhóm chức năng tri giác của não và cách thức luyện tập chúng, thế nên bạn sẽ nhận thấy dễ dàng hơn những hoạt động hàng ngày có thể giúp mình rèn luyện trí óc và não bộ ra sao.


http://dantri.com.vn/c7/s7-534909/5-bai-tap-ren-nao-moi-ngay.htm

Trích dẫn

Căn cứ tín hiệu “ nạp âm” của hệ ngũ âm phương Đông = cung - thương - giốc - chủy - vũ, được ghi trong sách Nội Kinh:

Tại âm vi giốc, khí hóa vi Mộc
Tại âm vi chủy, khí hóa vi Hỏa
Tại âm vi cung, khí hóa vi Thổ
Tại âm vi thương, khí hóa vi Kim
Tại âm vi vũ, khí hóa vi Thủy


chuyển đổi ra ký tự số đếm hệ thập phân ( 0,1,2,3…)

Posted Image
.......................Đồ.........Rê.........Mi.........Sol.........La
........................Tý.......Thìn........Tị..........Dần......Mão
......................Ngọ......Tuất........Hợi.......Thân.....Dậu

Ghi chú: hành gốc (biến) căn cứ theo sách Nội Kinh, còn hành ngọn (hóa) thì theo luật sinh xuất ngũ hành (Thổ sinh Kim, Thủy sinh Mộc….)

Vạn vật có sự sống ở trần gian này, được người xưa tích lũy trải nghiệm bằng luận thuyết Ngũ hành ( Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ ) tức là 5 cách vận động – dịch chuyển – biến thái – chuyển hóa… của mọi quá trình phát triển & hủy diệt sự vật (cũng có thể khái quát hơn : số lượng & chất lượng sự vật luôn tiếp biến cho nhau !)

- Hành vi “bản năng” là động thái hành Mộc (sinh sôi, nẩy nở…)
- Hành vi “hành động” là động thái hành Hỏa (phát huy, phát triển...)
- Hành vi “kinh nghiệm” là động thái hành Thổ (thu gọn, qui nạp…)
- Hành vi “phương pháp” là động thái hành Kim (chắt lọc, chọn lựa…)
- Hành vi “phản xạ” là động thái hành Thủy (phát tán, thanh lý,đối phó…)


Lượng hóa cho mỗi Can (trong 10 Can) bằng ký tự số đếm thập phân: từ số 0 (zéro) rồi tiếp theo 1, 2, 3, …

Posted Image

Bước 2 (Bảng :(
Lượng hóa cơ chế tam phân của lưỡng nghi Âm - Dương:
* 3 phân nghi âm: Thiếu âm, Quyết âm, Thái âm
* 3 phân nghi dương: Thiếu dương, Dương minh, Thái dương cũng bằng ký tự số đếm thập phân (0, 1, 2, 3…)

Posted Image

Bước 3 (Bảng C)

Lượng hóa cho mỗi chi ( trong 12 chi ) phân phối theo trình tự cơ chế 3 phân của Âm Dương:
- Từ Tý đến Tỵ thuộc nghi Dương, từ Ngọ dến Hợi thuộc nghi Âm, cùng ra ký tự số đếm hệ thập phân ( 0, 1, 2, 3…)


Posted Image

Đây là bảng tổng hợp tất cả số đếm của mỗi Can + Chi (gọi là “nạp âm” Can Chi – NÂCC): chuyển đổi ra ký tự số thập phân ( 0, 1, 2, 3…)

Thí dụ 1: Nạp âm Tân Mão có số ký tự :
* Can Tân là 3 (theo bảng A)
* Chi Mão là 1 (theo bảng C)
═> NÂCC “Tân Mão” = 3+1 = 4
Thí dụ 2: nạp âm Qúi Hợi = 4 (bảng A) + 2 (bảng C) = 6

Posted Image


Vì hệ ngũ âm nhạc lý cổ chỉ vận hành từ ký tự 0 (zéro) đến 4 (tức là nhịp 5), nên số đếm của nạp âm Can Chi (NÂCC) ở bảng E cũng chỉ sử dụng nhịp 5 (từ 0 đến 4),
do đó nếu nạp âm Can Chi có ký tự 5 hoặc ký tự 6 , ta làm phép trừ cho 5 để tìm số dư (là số còn lại sau phép tính trừ) và lấy số dư này làm ký tự cho hành ngọn (hóa) theo bảng D;
Thí dụ 1 : * nạp âm Canh Thìn (theo bảng E) có ký tự 5; ta có số dư: 5 - 5 = 0
═> Canh Thìn hành Kim (theo bảng D)
Thí dụ 2 : * nạp âm Nhâm Tuất (theo bảng E) có ký tự 6; ta có số dư: 6 - 5 = 1
═> Nhâm Tuất hành Thủy (theo bảng D)
Toàn bộ ngũ hành của lục thập hoa giáp như sau :

Posted Image


Đổi năm âm lịch ra hành khí (mệnh):

Quy ước:

1. Thiên Can:

Giáp - Ất = 1
Bính - Đinh = 2
Mậu - Kỷ =3
Canh - Tân = 4
Nhâm - Quý = 5

2. Địa chi:

Tý - Sửu = 1
Dần - Mão = 2
Thìn - Tị = 3
Ngọ - Mùi = 1
Thân - Dậu = 2
Tuất - Hợi = 3

c. Hành khí theo chiều ngũ hành tương khắc:

Thủy = 4; Hỏa = 3; Kim = 2; Mộc = 1; Thổ = 0

Từ đó ta có:

+ Thiên Can + Địa chi = nhỏ hơn 5 = Thiên can + Địa chi
+ Thiên Can + Địa chi = lớn hơn 5 = ( Thiên can + Địa chi ) - 5

Một cây kim, ta có thể cứu được mạng người

Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên Y-tế săn sóc.



Khi bệnh nhân nằm đó, hãy thử xem người này có đúng là bị đột quỵ (tai biến mạch máu não, xuất huyết não) hay không, bằng ba cách :

- Bảo người đó cười.
- Bảo người đó nói, hoặc nói theo một câu ngắn
- Bảo người đó giơ tay lên.

Nếu người bệnh không làm được 3 điều đó, thì đúng là bị bệnh đột quỵ.

Kính thưa quí vị, có thể quí vị đã có đọc những dòng chữ này rồi, nhưng chúng tôi muốn trích dịch ra tiếng Việt Nam và phổ biến rộng rãi, trong hy vọng có thể cứu được mạng người trong cơn nguy cấp, khi chờ đợi được các chuyên viên y tế săn sóc.

Chỉ cần một ống tim thuốc (loại dùng xong rồi phế thải, bằng nhựa), hoặc một cây kim may là chúng ta có thể cứu mạng một bệnh nhân đang bị chứng tai biến mạch máu não (stroke). Việc cứu chữa thật đơn giản và dễ dàng một cách lạ lùng và hữu hiêu. Chúng ta chỉ cần vài phút để đọc tài liệu này, và các điều ghi trong tài liệu quả là những hướng dẫn tuyệt vời.

Xin quí vị ghi nhớ hoặc lưu giữ tài liệu này để sẵn sàng áp dụng, vì biết đâu, một ngày nào đó quí vị sẽ dùng đến để cứu sống mạng người.

Khi có bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, chúng ta phải giữ bình tĩnh, đừng cuống quít. Ðiều quan trọng nhất là ÐỪNG BAO GIỜ DI CHUYỂN NẠN NHÂN, bất kỳ là họ đang bị nạn ở đâu. Vì nếu nạn nhân bị di chuyển, các tia huyết quản trong não bộ sẽ vỡ ra. Từ từ giúp bệnh nhân ngồi thẳng dậy, và chúng ta có thể bắt đầu công việc “rút máu.”

Nếu quí vị có sẵn một ống tiêm thuốc, thì tốt nhất, nếu không thì một cây kim may, hay một cây kim gút, cũng có thể giúp chúng ta được.

1- Trước hết chúng ta hãy hơ nóng kim bằng lửa(bật lửa, đèn nến) để sát trùng, rồi dùng kim để chích trên mười đầu ngón tay.

2- Chúng ta không cần tìm một huyệt đặc biệt nào cả, chỉ cần chích vào đầu ngón tay, cách móng tay độ một ly(milimetre).

3- Chích kim vào cho đến khi có máu rỉ ra.

4- Nếu máu không chảy, nên nặn đầu ngón tay cho đến khi thấy máu nhỏ giọt.

5- Khi máu đã chảy từ cả mười đầu ngón tay, thì chờ vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh dậy.

6- Nếu mồm bệnh nhân bị méo, thì chúng ta phải nắm hai (lỗ) tai của bệnh nhân kéo mạnh, cho đến khi hai tai đều ửng màu đỏ.

7- Chích vào dái tai (ear lobe) hai mũi kim mỗi bên cho đến khi máu nhỏ giọt từ mỗi dái tai. Sau vài phút, bệnh nhân sẽ tỉnh lại. Chúng ta hãy kiên tâm chờ cho đến khi bệnh nhân hoàn toàn hồi tỉnh và không có một triệu chứng nào khác thường mới mang bệnh nhân đến bệnh viện.

Vì nếu nạn nhân được chuyên chở vào bệnh viện sớm hơn. Có thể những dằn sóc của xe cứu thương sẽ làm cho các mao quản (capillaries) trong não bộ bi vỡ ra.

Theo các thống kê, thì hiện nay, bệnh tai biến mạch máu não là nguyên nhân giết chết người ta hàng thứ nhì. Những người may mắn thì có thể sống còn, nhưng phải mang tật nguyền suốt đời. Ðó là một tai họa khủng khiếp có thể xảy đến cho một cá nhân. Nếu chúng ta có thể ghi nhớ phương pháp cho xuất huyết trên đây, để có thể giúp đỡ những nạn nhân của căn bệnh quái ác này, để áp dụng tức thời trên nạn nhân, thì chỉ trong một thời gian ngắn, bệnh nhân sẽ tỉnh lại và được phục hồi 100%.

Chúng tôi hy vọng là quí vị có thể phổ biến tài liệu này để bệnh tai biến mạch máu não không còn là một căn bệnh giết người như hiện nay nữa.

NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN DẪN ĐẾN TBMMN

1- Nguyên nhân:


- Những người bị cao huyết áp.
- Xơ vữa động mạch: Thường ở những người béo mập, những người nghiện bia, rượu, hút thuốc lá...
- Những người bị các bệnh về tim, mạch (hẹp, hở van tim, van động mạch chủ, động mạch phổi...)

2- Điều kiện (còn gọi là nguyên nhân tức thời để TBMMN dễ xảy ra)

- Tình trạng thần kinh căng thẳng (tức giận, lo âu, buồn vui quá độ...)
- Say bia, say rượu, say thuốc lá.
- Nhiễm lạnh đột ngột (khi tắm, bị gió lùa).

NHỮNG DẤU HIỆU BÁO TRƯỚC KHI BỊ TBMMN

- Nhức đầu: Đây là dấu hiệu thường có nhất, hay xuất hiện về đêm, nhức nửa đầu (thường ở bên sẽ bị tổn thương). Cơn nhức đầu có thể thoáng qua hoặc kéo dài.

- Chóng mặt, ù tai, buồn nôn, nhiều khi bị xung huyết ở vùng mặt (bầm tím).

- Rối loạn ngôn ngữ: Nói khó, nói ngọng, không hiểu lời.

- Tê bì hoặc dị cảm nửa người (bên sẽ bị liệt).

- Thoáng mất ý thức, thoáng quên, thoáng điếc, thoáng ngất.

Tất cả những dấu hiệu trên có thể chỉ thoáng qua rồi mất cho nên người bệnh không lưu ý. Nhưng có khi ngay sau đó người bệnh rơi vào tình trạng TBMMN (hôn mê).

NHỮNG TRIỆU CHỨNG CỦA TBMMN

1- Nếu nặng

Tự nhiên bệnh nhân bị sây sẩm mặt mày rồi ngã vật ra, mê man bất tỉnh, thở khò khè. Liệt nửa người, ỉa đái dầm dề. Những trường hợp này rất nặng, dễ dẫn đến tử vong sau ít giờ.

2- Nếu nhẹ

Bệnh nhân cảm thấy nói khó, tê bì nửa người, tay chân khó vận động và dần dần không thể chủ động được nữa, tình trạng tinh thần vẫn còn tỉnh táo. Bệnh có thể dừng ở đây rồi phục hồi dần dần. Song nhiều khi trở thành nặng như trên.



Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) là vấn đề cơ bản, cốt lõi và là mục tiêu mà Đảng và nhân dân ta kiên trì, kiên định phấn đấu từ năm 1930 đến nay. Nhờ nắm vững mục tiêu đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành chính quyền về tay nhân dân lao động, làm nên những thắng lợi vĩ đại và huy hoàng trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa cả nước tiến lên CNXH, thực hiện công cuộc đổi mới mang lại nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử.

Tuy vậy trên các trang mạng phản động vẫn có những giọng điệu lạc lõng đòi Đảng ta, nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn. Để phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phủ nhận giá trị đích thực của Cách mạng nước ta, một tờ báo mạng đăng tải bài viết xuyên tạc rằng: “Sau 66 năm gọi là “độc lập”, người dân nước ta đến nay vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ, vẫn chưa có quyền công dân, vẫn như bơ vơ lạc lõng trên chính quê hương mình”; và cho rằng, nguyên nhân sâu xa là từ chế độ “chủ nghĩa xã hội Mác-xít”. Một tờ báo mạng khác thì nêu lên 10 luận điểm xuyên tạc trên những vấn đề rất cơ bản, mang tính chất nền tảng, gốc rễ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hết sức độc hại và nguy hiểm cả về tư tưởng, lý luận và lịch sử, xuyên tạc một cách có hệ thống bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.

Chẳng cần phải phân tích nhiều cũng đã rõ tính chất phản động và phản khoa học của những quan điểm thù địch, sai trái đó. Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn lịch sử cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hiện thực sinh động làm cho nhân dân ta ngày càng vững tin hơn vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường mà cả dân tộc ta đang một lòng vững bước tiến về phía trước.

Cần khẳng định rằng, chúng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là đi tiếp con đường cả dân tộc đã từng đi hơn tám thập kỷ qua; là nối tiếp hiện thực - thực tiễn CNXH đã có, đang có ở Việt Nam, chứ không phải là kiên định một "lý tưởng mơ hồ". Con đường cách mạng mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn thể hiện đầy đủ khát vọng của mọi tầng lớp nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là giải pháp tổng quát duy nhất đúng, tối ưu, nhanh nhất và hiệu quả nhất để xây dựng đất nước Việt Nam thực sự dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ta thực sự ấm no, tự do, hạnh phúc và làm chủ thực sự cuộc sống và đất nước mình.

Nhân dân ta được làm chủ vận mệnh của mình, được xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc trong một đất nước độc lập, tự do như ngày hôm nay là kết quả phấn đấu và hy sinh xương máu của nhiều thế hệ người Việt Nam đi theo ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Không có CNXH thì làm sao có được độc lập dân tộc thực sự và triệt để; làm sao nhân dân được hạnh phúc thực sự; vị thế đất nước ngày càng nâng cao trên trường quốc tế như hôm nay. Thế giới biết đến và đánh giá cao Việt Nam không chỉ vì nhân dân Việt Nam anh dũng, kiên cường và chiến thắng các đế quốc to, mà còn vì cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã đạt được những thành tựu to lớn, mang ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước.

Báo Nước Mỹ ngày nay, tờ báo có số phát hành lớn nhất ở Hoa Kỳ, đăng bài của Đa-vít Lin-chơ, đã từng viết: “Việt Nam giờ đây đang trên con đường trở thành quốc gia châu Á mới nhất chuyển từ đất nước nghèo nàn thời thuộc địa thành một quốc gia phồn thịnh. Không khí hoạt động nhộn nhịp tại các nhà máy, công xưởng và người đi lại như mắc cửi trên các đường phố phản ánh rõ một thực tế là người Việt Nam hướng tới những ngày tháng tốt đẹp ở phía trước”. Tại Luân Đôn, ngày 23 và 24-9-2008, trong báo cáo nhan đề “Các thị trường của tương lai”, Cơ quan Thương mại và Đầu tư của Chính phủ Anh (UKTI) nhận định, Việt Nam là thị trường có sức hấp dẫn nhất, đứng đầu trong mười nước có tốc độ tăng trưởng cao trong tương lai. Theo mạng EMFIS (Đức) “Về trung hạn, Việt Nam vẫn tiếp tục là một trong những nước được quan tâm nhất của các nhà đầu tư”. Báo cáo của Ban tổ chức Hội nghị Toàn cầu các quốc gia hòa bình tại Oa-sinh-tơn diễn ra từ ngày 1 đến ngày 3-11-2009 nêu rõ: “Việt Nam đang đạt được ổn định trong nước thông qua công cuộc phát triển kinh tế được cả thế giới biết đến với tên gọi “Đổi mới”.

Có được những đánh giá nhận định khả quan về kinh tế Việt Nam là bởi con đường XHCN chúng ta đang đi là đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại và yêu cầu phát triển của dân tộc. Đó là bằng chứng sát thực nhất có được từ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó kiên trì, kiên định con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH luôn được Đảng ta, nhân dân ta nắm vững và giương cao mang ý nghĩa quyết định.

Sự nghiệp xây dựng xã hội mới ở nước ta thật sự khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng cũng có những thuận lợi cơ bản và thời cơ lớn. Bài học kinh nghiệm quan trọng nhất Đảng ta rút ra từ thực tiễn lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng thời gian qua là, trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào cũng phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Với thế và lực của đất nước hiện nay, với sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta sẽ tận dụng được thuận lợi, tranh thủ được thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, khắc phục nguy cơ, thực hiện thắng lợi những mục tiêu theo con đường đã chọn.

PGS.TS Nguyễn Mạnh Hưởng

http://www.qdnd.vn/qdndsite/vi-VN/61/43/5/5/5/165248/Default.aspx

Sự sống phải chăng là vĩnh cửu?

Liệu rằng có tồn tại một cuộc sống khác sau khi người ta chết đi? Và liệu bản chất của sự bất tử có nằm trong một linh hồn vật chất?

img
Khi thân xác vật lý của chúng ta chết đi giống như một ngọn nến lụi tàn, linh hồn của chúng ta liệu có còn tồn tại? (Stephanie Lam / Thời báo Đại Kỷ Nguyên)

Theo nghĩa hẹp thì cơ thể con người chết đi mỗi thập kỷ một lần. Từng tế bào tái tạo, mất đi, và được thay thế theo mỗi tần số cụ thể, tùy thuộc vào loại tế bào (cơ, mô liên kết, cơ quan, thần kinh, và vv…). Tuy nhiên, khi các tế bào ban đầu trên gương mặt, xương hoặc trong máu của chúng ta già và mất đi hàng giờ, hàng ngày, hoặc hàng năm, cơ thể của chúng ta luôn đổi mới, trong khi đó ý thức thì vẫn không mất đi.

Vậy thì, ý thức trú ngụ ở nơi đâu? Có phải nó nằm bên ngoài vòng quay giữa sự sống và cái chết mà thân xác của chúng ta trải qua? Cuộc sống là gì? Và điều gì định đoạt cái chết?

Câu trả lời cho những câu hỏi kiểu như thế này thường được tìm thấy ở một nơi nào đó thuộc ranh giới giữa khoa học và triết học, tuy vậy khả năng để xác định rõ khi nào cuộc sống bắt đầu, kết thúc, và nó nằm ở đâu,… là một vấn đề xác đáng đối với một cộng đồng khoa học có ý định khám phá sự tồn tại của các sinh vật sống trong những cuộc hành trình khám phá không gian tương lai.

Nguyên tử bất diệt

img231

Theo sinh vật học hiện đại, học hành – bao gồm đủ loại kích thích môi trường và sự phân nhánh hình cây trong cả cuộc đời một người – phát triển trong cái gọi là “bộ nhớ neuron”.

Cách lưu trữ thông tin này nhanh chóng, nhưng nó không cho hiệu quả cao như lưu trữ thông tin qua di truyền. Một gói thông tin di truyền liên tục chuyển từ thế hệ này qua thế hệ sau mà không cần đến những bài học thuộc lòng tẻ nhạt.

Nói cách khác, các bản thiết kế của cơ thể chúng ta có tồn tại bên trong con cái của chúng qua gen di truyền của chúng ta. Màu tóc, hình dáng cơ thể, protein trong huyết tương, hoặc thể chất đặc biệt được bảo quản trong các gói thông tin di truyền, mang và truyền qua nhiều thế hệ.

Trong sự kết hợp giữa các giao tử, một tỷ lệ lớn các gen bị mất đi trong quá trình hình thành hợp tử. Những đặc điểm được truyền đi, nhưng đặc tính cá nhân thì chết.

Tuy nhiên, một số nhà khoa học khẳng định rằng tâm trí và cơ thể đi theo những con đường khác nhau sau khi “chết”. Theo bác sỹ Rene Severijnen và bác sỹ Ger Bongaerts – các nhà nghiên cứu tại trung tâm y tế Đại học Radboud Nijmegen, Hà Lan – thì cuộc sống tồn tại ở nhiều cấp độ khác nhau. Họ giải thích rằng trong khi các tế bào chết đi tương đối nhanh chóng, các nguyên tử lại hầu như bất tử.

Theo Bongaerts, cái chết của một nguyên tử có nghĩa là vật chất chuyển đổi thành năng lượng – giống như khi một quả bom hạt nhân phát nổ. Nghĩa là, trong khi cơ thể đang phân hủy trong nhà xác (phân hủy ở cấp độ tế bào), các hạt nhân nguyên tử không bị phân rã.

Hoạt động của nguyên tử không kết thúc cùng với cái chết, vậy thì điều gì xảy ra với những nguyên tử đó khi một người chết đi?

Nếu chúng ta xem xét đến niềm tin của các nền văn hóa phương Đông cổ đại, người ta nói rằng con người có nhiều thân thể tồn tại ở nhiều tầng khác nhau. Hiểu được điều này, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong khi cơ thể trong nhà xác phân hủy, tầng tế bào cũng đang phân hủy (cơ thể vật lý). Trong khi đó, các nguyên tử có liên quan bên trong những tế bào này vẫn tồn tại trong một không gian mà không bị ảnh hưởng bởi sự phân hủy ấy, vẫn giữ được kết cấu ban đầu của chúng.

Vì vậy, những “thân thể” cấu tạo từ các hạt nhỏ hơn tế bào mà không trải qua quá trình phân hủy ấy, có thể chính là linh hồn, tinh thần, hoặc ý thức mà chúng ta có thể nhận biết bằng trực giác, nhưng khoa học hiện nay vẫn chưa thể xác định nổi.

Sự hiện diện của chúng chỉ ra rằng thậm chí sau cái chết của một cơ thể, có lẽ cuộc sống vẫn chưa kết thúc.

Sự sống vi mô

Theo một số nhà khoa học, các nguyên tử ghi nhớ mọi cảm xúc, mọi cảm giác, mọi trải nghiệm siêu nhỏ.

img321

Trong nhiều năm qua, các khoa học gia tin rằng các tế bào thiếu tính cá thể, chúng được cho là hành động theo nhóm như những sợi chỉ trong một tấm vải. Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây của Giáo sư Brian Ford – nhà sinh vật học và là chủ tịch của Hội Ứng dụng Nghiên cứu Cambridge, đã đưa ra một giả thuyết khác.

Nghiên cứu của ông cho thấy rằng thực ra mỗi từng tế bào là những thực thể hoàn chỉnh, có trí thông minh, có thể truyền đạt và chia sẻ thông tin. Theo quan điểm của ông, mỗi tế bào riêng lẻ là một sinh vật hoàn chỉnh thực sự có khả năng đưa ra quyết định.

img5

Vậy thì hãy nghĩ xem, nếu các khả năng ấy của tế bào cũng đúng với các cấu trúc ở cấp nguyên tử thì sao? Điều đó có thể sẽ mang lại một chìa khóa mở ra sự bất tử và chứng tỏ rằng cái chết thực ra chỉ là ảo ảnh mà thôi.

(Theo The Epoch Times)

http://tin180.com/khoahoc/ho-so-tu-lieu/20111027/su-song-phai-chang-la-vinh-cuu.html

Giải thích nguồn gốc các đại dương trên Trái Đất

Ngày 25/10, Tân Hoa xã đưa tin, một nhóm các nhà khoa học châu Âu thông báo đã phát hiện một lượng hơi nước khổng lồ ngoài hệ Mặt Trời.

Nhờ sử dụng Đài thiên văn vũ trụ Herschel, một vệ tinh của Cơ quan Vũ trụ châu Âu, các nhà nghiên cứu đã quan sát được lượng hơi nước lớn bao quanh một ngôi sao cách Trái Đất 175 năm ánh sáng và đĩa bụi xung quanh ngôi sao này mà cuối cùng sẽ hình thành nên một hành tinh.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, lượng hơi nước nói trên, “đủ nhiều để lấp đầy hàng nghìn đại dương trên Trái Đất,” có thể sẽ biến thành mưa rơi xuống và tạo nên các đại dương trong tương lai trên hành tinh trẻ nói trên, tương tự những gì đã diễn ra trên hành tinh của chúng ta 4,5 tỷ năm về trước.

Nhà thiên văn học Michiel Hogerheijde thuộc Đài quan sát Leiden ở Hà Lan khẳng định: “Từ lâu các nhà khoa học đã xác định có những lượng nước lạnh khổng lồ như vậy ẩn khuất đâu đó trong những khu vực bên ngoài của đĩa hành tinh. Nay lý thuyết đó trở nên thuyết phục hơn đáng kể.”

Ông kết luận phát hiện này không chỉ giải thích về nguồn gốc của đại dương trên Trái Đất mà cũng gợi ý rằng có thể có nhiều “thế giới đại dương” trong các dải thiên hà.

Nghiên cứu trên được đăng ngày 23/10 trên tạp chí Khoa học của Mỹ./.

http://www.vietnamplus.vn/Home/Giai-thich-nguon-goc-cac-dai-duong-tren-Trai-Dat/201110/110705.vnplus

Ngũ Hành sanh khắc luận

去五行生克论 《连山归藏》铁版佐证 金、木、水、火、土,中国古代的思想家把这五种物质作为构成万物的元素,但源起于春秋时的五行相生相胜的思想,在西汉被京房的《京氏易传》在八卦中贯以世、应、伏、飞等解说爻、卦的术数理论穿凿五行生克制化统御八卦形成了新的“朴素哲学”、“唯物论”。其实这种理论凭据实在不可在八卦中推敲,以致中国的术士应用“五行”2000多年之久,其间竞无人提出太多疑问,至今在中国九家易理唯物朴素哲学体系中亦无人置疑它。 五行者,本周舞也。秦始皇二十六年更名曰:五行其舞人冠冕衣服法五行色。在商周时又有五刑之法即:“古代五行刑法”。而中医学理论的《黄帝内经》的五行辩证(症)理论体系是存立的,因黄帝内经论:“肺”属金、“肝”属木、“胃”属土、“心”属火、“肾”属水,这五种物体的代表都是存在于一个人体之内的实物,假如肺热有火,就可用汤药凉性之物以制之,或西药皆可,这是一种实物对实物在同一肌体内的客观辩证(症),如肾虚不济、心肾不交,则可以通过用补肾温通之法来用药也是实物对实物,就是说在《黄帝内经》的五行理论都是客观存在的实物相胜相生论,这种理论可存在于一个有效的客观实物范畴内。 而当下的五行理论也是一种“朴素”“唯物”论,在四季中早有定性五行划分的春属木、秋属金、夏属火、冬属水、中央戊己属土,把它们混起来生克制化我们看看结果怎样: 用秋天的金去克春天的木,一年四季中秋在春之后,春在秋之前,早已是时过境迁的两个概念,怎么把春秋二季搞在一起比高下,这是个概念问题,有人说我可以拿斧子(属金)去砍木头,不就金克木了吗?古人也好、今天也好,我们论的这五行是客观自然状态下的朴素哲学观,就是说存在于一定空间时间状况下的自然物质永远是自然的,斧子是人为的东西,你用人为去一厢情愿的制造出一种“非客观”理论,就成了“唯心论”。这就是中国的易学多少年来摘不掉迷信帽子的隐忧。 金克木,金原本不存在,地球人从公元前3000多年才有了冶炼技术、青铜出现,那时尚不能绕开石器的使用,也就是说金的自然形式是“石”,原应以石、木、水、火、土论五行五种自然物质才对,其实金本是人为的东西了,金的存在是非自然界原生态的东西,那何可论“朴素”哲学。再说了,中国有新旧石器时代,是很漫长的时期,中国的有文字可考的文化应该更早上溯到七、八千年前,朴素而唯物的自然科学体系早在夏代时已经形成,那时形成的历法即“夏历”我们今天仍在沿用,这是古代天文学的代表作,可证明其在西汉2000多年前五行理论形式之先,中国应该有一套非常完善的唯物哲学来指导先民的客观行为,那就是早已失传的《连山经易》。 《连山经易》不论五行论六气即:温、热、寒、凉、署、燥,风为媒界(载体)推动六气在自然界运行万物生息。《连山经易》把一年中以正月建寅立春为一阳初发,把立秋定为阴消阳之势,这与当下易书中以子午定阴阳的理论大不相同,即《连山经易》是论一年四季中寅申定阴阳的。另《连山经易》的阳卦为乾系:艮、离、巽,阴卦坤系:震、坎、兑。 具体完善的《连山经易》著已横空出世,这是既2200年前秦焚书后,《连山经易》的传人把这套本属于全民族的人类朴素唯物观哲学体系还其本来面目,以正当下易学之乱象,以非常具体的客观实物论、摸看论、数理论证明《连山经易》并未失传。 我们再论石(金)克木,自然界的石怎么能在自然条件下克木呢?显然不能,倒是“咬定青山不放松”的树木根系不断的生长扎根而会使石裂崩化,这亦能叫木克金。 木克土。木依土生,土以培木,相互依存,木的本性是长、伸、延、展,尽可能的依土而亲和,做到我在你中,并不会使土有半点损耗,反而由于木的存在土不会被水冲刷流失,怎能说是木克土呢? 土克水。土水相依,水中有土,土中有水,水性下流而土挡聚之堵使之不泛滥,从某种意义上讲土是可以治水,但不能论克,第一:土是水之根,若无土涵水,水之不保,第二:占地球面积七成的海洋不可不谓水之浩淼,以土来治,何可为也?第三:土若无水滋润必燥,尘埃荡荡,难为本性,所以水土本是共存一体的比和关系,如六十四卦“水地比”可说明这一点。 水克火更是不可理喻,太阳为火,为真火,一个是恒星照耀天光,寒冷的冰水靠太阳之火来熔化暖之才能使其活性自如,温度再高时水可升腾气化成云致雨,循环于自然界中,何可水能克火,退一步说:地壳之下地核内部的岩浆温度高达几千摄氏度,试问地球上哪座海洋中的活火山被海水浇熄过。证明水不能克火。 火克金。早先讲地球客观“自然朴素”,咱们就论“朴素自然”,不能人为参加什么改造自然的想法(如风电、水电等只是利用)。金本是指石,地球形成之初石之遍布地表,从有了冷热气流的对流风才形成,再经过几十亿年的风化剥落,土壤也形成了。如果说石(金)最后剥落成土是风化的能量使之然也,这与火克石(金)有什么关系呢? 金生水。原来是说古人看到的水自山石中出,中国的三江源出于西山、川藏、青海之地(兑为石、石为金、金中出水),而水的本源在大海之中,由台风、季风再把湿热的洋流带向大陆,遇冷空气成霜雪雨雾而滋养万物或渗存于地下,怎么论也看不出石(金)生水逻辑,只能是说水就是水,水的流动为风能而起,亦讲“风生水起”。 水生木半成立,但细说是水滋养万物,并不能独生,首先就论植物之生长,必然有土培、阳光,温度再加适当的水称湿度,单是一个水能独生万物乎?亦只可论滋养。 木生火。太阳之火经科学验证是核能,是不断核聚变所产生与木生火并无关系,地壳下的赤热岩浆亦不是木能生的。非得说自然中的森林大火,那也是要看第一:自然中天干物燥自燃行为,第二:雷电使之燃也,抛开人为的点燃,木在自然界中生了火之说也太局限,再说万物生长靠太阳,太阳热能经光合作用转化成树木植物,这说明地球上几乎一切的生物动物都是太阳之子,木主仁,仁同人。是火生了木,亦可论火成就了木,木何能何德可生火也?只能说木具有可燃性。 火生土,地球在宇宙大爆炸之始为混沌之尘埃状,目前科学界仍不能定论恒星火生了行星土,所以这火生土也不能成立,至于木燃化灰成土之说只是自然界的局限现象成因之一。 土生金。土与矿物是经过漫长的地壳地理客观变化而基本固定下来的储藏形态,一座山里面,一块地该是金矿既是金、该是铁矿既是铁,就是万万年也不能再生新贵,“土生金”只能说是金自土出而并不能生,也不会长。 再看中国当下的八卦,乾、坎、艮、震、四男卦,加巽、离、坤、兑四女卦,八的存在是证明有九的成立,因为八卦为人发明所造设,八卦若不为戊己(无己)服务,己是我们自己,中央“戊己土”,发明八卦的古人开始定是以人为本的利己观,八卦九宫也就有存在的意义,既然是八卦加中央“戊己土”九个概念,却被加上五行又变成五个概念,一下子由九种理论退回来变作五种概念。这说明从西汉时,以京房为代表的易学或有意无意的制造了一种“伪朴素哲学”五行生克论,因那时庶人是不可论天文的,一直到三国的曹魏时代,演天文者都是重罪。他们以五行统八卦,把中国易学的九个概念弄成五个,这样一直传了下来到今天,除《白话易经》中没有五行理论外,其余几乎所有易著都用五行生克。 八卦是论的天下时空、四季、元运的变化概念,时光一去永不回,你用夏天的火去克秋天的金这怎么可以追得上去克?这是概念问题,决非实物的相互论证、印证可解释,在《连山经易》中就把六气的概念问题谈的非常明白,“天下乾坤而统六气,吉凶祸福随四时而发,虽天下万物而纷纭,莫过乎六气而旺衰,万物而生息,不过六气而运通。”让我们试目以待《连山易》这本巨著横空出世后之见真去伪。 五行理论中把八卦以人为本的哲学概念搞的非常混乱而可笑,坤卦后天八卦位居西南代表老太太,艮卦后天八卦中位居东北代表少男,看看五行是如何搓合为一个 “土”字代表,两卦把艮坤都当作土来划为一类,试想八卦为古代人本社会更好的生存哲学观可设,你把一个老奶奶和一个生命力极强的少男放在一起这如何能成立?五行口口声声是朴素哲学,怎么到这就讲不通理了,这是朴素哲学吗?再看另一个不能让人解释的五行“客观”凭据,后天八卦乾为老头居西北,兑为少女居正西,一个老头和一个少女同划为金,甚至连性别都不顾胡乱捏作,真的太可气人;巽为木为长女,震为木为长男,二个异姓男女现在只报一个人的户口,谁可以解释这五行之父怎么生出这样五个五不像的产物? 八卦演变之始,原本是要先搞清楚一年四季与阴阳变化的规律定义,再进行完善自然概念的理论框架,这是中国农本社会在以农耕为主要社会任务下创建的科学种田观。是当时社会急需的一个具有实用性纲领性的指导学说,《连山经易》中的八卦理论体系主要是讲政家法家如何御民、兵家如何征战、农家如何适时耕种收获、教育家如何教人成才、阴阳家如何教人顺应天道与时偕行、天文学家如何预知吉凶祸福、自家如何衍繁生息、医家如何辩证施治、道家、养生家如何延寿天年等。 《连山经易》不论五行生克制化,它的卦词除乾卦一卦有同《白话易经》其余63个卦的卦词、训词、爻词与《白话易经》无一相同,以宫变、象变为演卦的基本推理步骤,把三易之冠《周易》、《连山易》、《归藏易》之首《连山易》成著以示世人。把2200年以来口口相传密而不宣的江湖派理论绝秘文献公诸于世,这部《连山易》将会对当今流行的九家易,以五行生克制化为代表的理论体系进行一次大变革。自汉以来传说失传遁隐于江湖真正的唯物朴素哲学代表作《连山易》现已公布于天下。 正逢祖国六十华诞,运行艮八白运第七年2009-2010年为丑寅艮卦所主。为连山延绵,《连山易》重出面世必将对中国今后几千年的文化思想有着非常巨大的推动和影响,使历经22个世纪以来连山传人孜孜不悔忠实原著,保存中华文明史瑰丽篇章的先师们英灵得以告慰,他们将永垂青史。连山近代先祖师“白胜玉”曾留诗谶给当代宗师韩艺先生曰: 连山归藏本应藏, 真言不藏恐余殃; 十二九宫连山岁, 应是连山焕新装。